Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
​  Xã Mỹ Phú, huyện Thủ Thừa hoàn thành tiêu chí xây dựng nông thôn mới​  Xã Mỹ Phú, huyện Thủ Thừa hoàn thành tiêu chí xây dựng nông thôn mới


Sau hơn 9 năm triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới, xã Mỹ Phú, huyện Thủ Thừa đã đạt 19/19 tiêu chí. Diện mạo nông thôn của xã Mỹ Phú đã có sự thay đổi rõ rệt, hệ thống kết cấu hạ tầng được kiên cố hóa. Môi trường, cảnh quan nông thôn sáng, xanh, sạch, đẹp; an ninh, quốc phòng được giữ vững ổn, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng lên. 
 
my phu dat chuan ntm.jpg
Để ghi nhận kết quả xây dựng NTM của xã Mỹ Phú, Ngày 28/02/2019 Đoàn thẩm định xã đạt chuẩn NTM tỉnh đã tiến hành thẩm định và đánh giá xã Mỹ Phú đạt 19/19 tiêu chí NTM

Mỹ Phú thuộc phía Tây Nam của huyện Thủ Thừa, Xã có diện tích tự nhiên là 1.257,23 ha; xã được chia làm 4 ấp với 2188 hộ dân và 8381 nhân khẩu. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà. Đảng ủy, HĐND xã Mỹ Phú đã ban hành Nghị quyết về triển khai thực hiện xây dựng NTM. Đồng thời, UBND xã xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện, thành lập và kiện toàn Ban chỉ đạo xây dựng NTM, phân công công chức theo dõi xây dựng NTM để tham mưu cho Đảng ủy, UBND xã trong quá trình lãnh, chỉ đạo và tổ chức thực hiện xây dựng NTM

Xác định công tác tuyên truyền, vận động là nhiệm vụ quan trọng có tính quyết định trong việc tổ chức thực hiện thắng lợi chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng xã nông thôn mới và là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị. Từ đó, Đảng ủy, UBND xã đã triển khai tuyên truyền cho các ngành, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể xã, cán bộ Đảng viên và nhân dân nắm và hiểu rõ chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước về xây dựng NTM, cũng như về phát triển nông nghiệp, nông dân.

my phu dat chuan ntm1.jpg

Các ban ngành xã đã tổ chức triển khai 6 cuộc tuyên truyền với 183 lượt người tham dự. Thông qua hệ thống đoàn thể, mặt trận xã đã tổ chức tuyên truyền 305 cuộc với 6.265 lượt người tham dự ( Hội nông dân tổ chức 60 cuộc với 1320 lượt người; Hội phụ nữ tổ chức 61 cuộc với 1160 lượt người; ĐTN tổ chức 58 cuộc với 1080 lượt người; Hội CCB tổ chức 59 cuộc với 1239 lượt người; MTTQ tổ chức 67 cuộc với 1466 lượt người). Đài truyền thanh xã tổ chức phát thanh mỗi tháng 02 cuộc.

Qua công tác tuyên truyền vận động, ý thức của người dân được nâng lên, người dân hiểu rõ xây dựng nông thôn mới là quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Mục tiêu xây dựng nông thôn mới chủ yếu là phát triển sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân, nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội và người dân có vai trò là chủ thể quan trọng, vì vậy cần phát huy vai trò chủ thể, tự giác, tự nguyện tham gia xây dựng nông thôn mới, đóng góp công sức, tiền của, tự chỉnh trang nhà cửa, cổng rào, sân vườn, phát triển sản xuất, bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh trật tự, hiến đất, góp vốn để xây dựng các công trình hạ tầng giao thông, làm cho diện mạo nông thôn ngày càng đổi mới.
 

my phu dat chuan ntm2.jpg

Với 100% các tuyến đường trục xã, ấp, ngõ xóm được tập trung đầu tư, nâng cấp đạt chuẩn đảm bảo thuận lợi trong việc giao thương và đi lại của nhân dân. Hệ thống thủy lợi đảm bảo đủ điều kiện đáp ứng yêu cầu dân sinh và phòng, chống thiên tai; Trường học được đầu tư nâng cấp; nhà Văn hóa - Khu thể thao xã, ấp được đầu tư xây dựng, nâng cấp và trang bị đầy đủ trang thiết bị phục vụ sinh hoạt. Trạm y tế xã được UBND tỉnh công nhận đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã. Hệ thống điện thường xuyên được đầu tư mới, nâng cấp và sửa chữa do đó, tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên và an toàn đạt 100%, 
 
100% số hộ dân có nhà ở đạt chuẩn của Bộ Xây dựng, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao phát triển khá tốt và được người dân tích cực hưởng ứng, tham gia. Xã có 4/4 ấp được công nhận ấp Văn hóa, các phong tục, tập quán tốt đẹp được giữ vững. Môi trường sống được cải thiện; trật tự an toàn xã hội được giữ vững; hệ thống chính trị cơ sở không ngừng được cũng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động.

Về phát triển sản xuất, UBND xã đã tập trung chỉ đạo thực hiện Đề án tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng liên kết chuỗi giá trị, để nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Đến nay, toàn xã có 100% diện tích sản xuất lúa đã cơ giới hóa khâu làm đất và thu hoạch bằng máy; nhân rộng mô hình “3 giảm 3 tăng”, mô hình “Canh tác lúa hiệu quả, bền vững, giảm phát thải”;... Bên cạnh đó, HTX nông nghiệp Mỹ Phú được cũng cố; các mô hình hợp tác liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản như: Mô hình trồng dưa lưới trong nhà màng ấp 4, trồng rau thủy canh an toàn ấp 3, tổ hợp tác tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp ấp 2, sản xuất lúa giống đạt chuẩn ở ấp 2 và ấp 4 hoạt động có hiệu quả.
 
my phu dat chuan ntm3.jpg

Công tác giảm nghèo, giải quyết việc làm luôn được quan tâm. Ngân hàng chính sách xã hội huyện đã giải quyết cho các hộ dân trên địa bàn xã vay vốn với tổng số tiền hơn 23 tỷ đồng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ phát triển sản xuất, tăng thêm thu nhập, giải quyết việc làm cho một số lao động nông thôn. Từ đó, đời sống của nhân dân trong xã được cải thiện đáng kể. Do đó, thu nhập bình quân trên đầu người năm 2019 đạt 46.980.000 triệu đồng/người/năm; 100% hộ có phương tiện nghe nhìn, bình quân 01 hộ có từ 1 - 2 xe gắn máy; 2-3 máy điện thoại di động; hộ khá giàu tăng, hộ nghèo giảm so với trước khi xây dựng NTM; tỷ lệ hộ nghèo năm 2011 là 6,4% và năm 2019 giảm còn 3,1%. Trong hơn 645 tỷ đồng xây dựng nông thôn mới trên đại bàn xã Mỹ Phú thì có hơn 425 tỷ đồng do nhân dân đóng góp, gồm: Đóng góp xây dựng tiêu chí nhà ở dân cư 345 tỷ đồng; tiêu chí môi trường và an toàn thực phẩm 57 tỷ đồng, tiêu chí giao thông 3,8 tỷ đồng …)

Có thể nói: Qua hơn 09 năm thực hiện Chương trình xây dựng NTM, được sự quan tâm lãnh đạo của tỉnh, huyện. Đảng ủy-HĐND-UBND xã đã tập trung cả hệ thống chính trị để thực hiện, quán triệt cho tất cả cán bộ, đảng viên nhận thức về tầm quan trọng trong xây dựng nông thôn mới, tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân qua các cuộc họp ở chi, tổ hội và ngày “đại đoàn kết toàn dân tộc” để người dân hiểu được về mục đích xây dựng nông thôn mới. Qua đó, nhận thức về xây dựng nông thôn mới của cán bộ, đảng viên, hệ thống chính trị từ xã đến ấp và nhân dân từng bước được nâng lên xác định được người dân là chủ thể trong xây dựng nông thôn mới và là đối tượng được thụ hưởng. Do đó, các chương trình do xã đưa ra thực hiện đều được sự đồng thuận cao của nhân dân, nhất là chương trình xây dựng cơ bản thực hiện bê tông hóa, cứng hóa  đường giao thông nông thôn.
Anh Nhung
Chi cục PTNT và Thủy lợi




18/03/2020 11:00 SAĐã ban hành
Tân Thạnh: Hội nông dân xã Tân Thành phát huy hiệu quả mô hình thu gom rác vỏ chai bao bì thuốc BVTV và mô hình lò đốt rác sinh hoạtTân Thạnh: Hội nông dân xã Tân Thành phát huy hiệu quả mô hình thu gom rác vỏ chai bao bì thuốc BVTV và mô hình lò đốt rác sinh hoạt

Thời gian qua, Hội nông dân xã Tân Thành đã có nhiều hoạt động thiết thực góp phần tích cực bảo vệ môi trường nông thôn xanh - sạch - đẹp, đặc biệt là từ khi triển khai mô hình thu gom vỏ chai bao bì thuốc bảo vệ thực vật và mô hình lò đốt rác thải sinh hoạt gia đình nông dân đã góp phần nâng cao chất lượng tiêu chí môi trường trong xây dựng xã văn hóa - nông thôn mới ở xã Tân Thành.

thu gom rac tan thanh.jpg
Có 30 thùng rác bố trí tại địa bàn xã Tân Thành

Toàn xã có 6 ấp, dân số 1.680 hộ với 6.574 nhân khẩu và có tổng diện tích sản xuất nông nghiệp là hơn 2.074 ha nên lượng rác thải ra môi trường là rất lớn. Do đó, Hội nông dân xã đã tích cực tuyên truyền vận động hội viên - nông dân hưởng ứng tham gia nhiều hoạt động bảo vệ môi trường chống biến đổi khí hậu ngay từ những việc làm như phân loại, xử lý rác sinh hoạt tại hộ gia đình, dọn dẹp vệ sinh vườn tược tạo cảnh quang môi trường, thu gom rác vỏ chai, bao bì thuốc bảo vệ thực vật đã qua sử dụng trên đồng ruộng. Ông Phan Thanh Hùng ở ấp 5 xã Tân Thành cho biết: “Từ trước tới giờ mỗi lần xịt thuốc xong tôi vẫn thu gom về nhà cái nào không bán ve chai được thì tui chôn nhưng từ khi có thùng rác thì tôi cũng như những người khác đều đem về bỏ vô đây, người này tuyên truyền người kia làm theo ruộng vườn xung quanh đây đều sạch trơn không còn vở chai, bao bì như trước đây”.

Hiện Hội nông dẫn xã bố trí hơn 30 thùng thu gom rác vỏ chai, bao bì thuốc bảo vệ thực vật tại các khu vực có nhiều diện tích sản xuất ở 4/6 ấp. Các thùng được bố trí ở các điểm công cộng thuận tiện cho người dân tập kết rác thuốc bảo vệ thực vật, đã phát huy được hiệu quả tích cực góp phần giảm lượng rác bị vứt bỏ tại đồng ruộng đáng kể. Hiện tại ở địa bàn các ấp đã triển khai thực hiện, người dân đã dần có ý thức thu gom và nhắc nhở nhau bỏ rác vỏ chai, bao bì thuốc bảo vệ thực vật vào thùng chứa đúng nơi quy định. Chị Lê Thị Hồng Gấm ở ấp 5 xã Tân Thành cho biết: “Bản thân tôi cũng như gia đình trước đây cũng không biết giải quyết mớ rác này như thế nào, mà giờ đây chỉ cần chịu khó xài xong thì gom vô bịt đem về đây rất là tiện lợi, làm riếc rồi cũng thành thói quen, giờ đi đâu tôi cũng tuyên truyền cho người dân cùng thực hiện, thậm chí là sẵn ở cùng tuyến đường có thể mang rác dùm cho những hộ khác đến đây để đúng nơi quy định”.

thu gom rac tan thanh1.jpg
Toàn xã Tân Thành có 31 lò đó rác mini

Bên cạnh đó, Hội nông dân xã Tân Thành còn vận động hội viên nông dân tham gia hưởng ứng, đóng góp kinh phí xây dựng lò đốt rác mini để xử lý rác sinh hoạt cho người dân tại địa bàn 6/6 ấp. Ban đầu thực hiện thí điểm mỗi ấp 1 lò, thấy có chuyển biến tích cực, nhân dân đồng tình hưởng ứng, đến nay đã nhân rộng được 31 lò đốt rác đặt gần trụ sở ấp và khu vực đông dân cư. Nhờ đó, mà hạn chế được tình trạng người dân vứt, đổ rác bừa bãi gây ô nhiễm môi trường và đặc biệt là người dân dần ý thức được bảo vệ môi trường là bảo vệ sức khỏe cho bản thân, gia đình mình và cộng đồng nên tự giác mang đi tiêu hủy. Ông Bùi Văn Chơn - Chủ tịch Hội nông dân xã Tân Thành cho biết: “Hai mô hình này đã phát động thực hiện được hơn 1 năm rất có hiệu quả, bằng chứng là dọc theo các tuyến đường, bờ ruộng, vườn cây ăn trái của người dân hầu như là sạch sẽ không còn cảnh chai lọ, bao bì thuốc BVTV vương vãi như trước nữa. Sắp tới hội sẽ vận động kinh phí thực hiện ở 2 ấp còn lại để phủ kín địa bàn xã và xây dựng thêm các lò dốt rác mini để môi trường ngày càng trong lành hơn”.

Hiện nay, tình trạng ô nhiễm môi trường từ rác thải nói chung và từ thuốc bảo vệ thực vật nói riêng ở nông thôn đang là mối quan tâm của toàn xã hội. Do đó, những mô hình như trên cần được phát huy và nhân rộng hơn nữa nhằm góp phần chuyển biến từ ý thức sang hành động của mỗi người dân trong việc chung tay giữ gìn vệ sinh môi trường, hạn chế thấp nhất bao bì cũng như tồn dư của thuốc bảo vệ thực vật phát tán ra môi trường để bảo vệ sức khỏe con người. Đây cũng là vấn đề xã Tân Thành đặc biệt quan tâm thực hiện để duy trì, giữ vững danh hiệu xã văn hóa - nông thôn mới tiến xây dựng đạt chuẩn xã nông thôn mới theo lộ trình kế hoạch đề ra./.

DUY THANH
Đài Truyền thanh huyện Tân Thạnh

 



12/03/2020 8:00 SAĐã ban hành
Phước Hậu về đích xã nông thôn mới nâng caoPhước Hậu về đích xã nông thôn mới nâng cao

Sau khi đạt xã nông thôn mới vào năm 2015, xã Phước Hậu tiếp tục thực hiện 05 tiêu chí xã nông thôn mới (NTM) nâng cao. Với sự quyết tâm, vào cuộc của cả hệ thống chính trị, đồng lòng chung sức của nhân dân, đến nay các tiêu chí đều đáp ứng yêu cầu so với bộ tiêu chí xã đạt chuẩn NTM nâng cao. Trong đó các chỉ tiêu về thu nhập, hộ nghèo, tỷ lệ người dùng nước sạch, lao động qua đào tạo đều vượt chuẩn.
 
nang cao phuoc hau.jpg
Đường giao thông liên ấp được bê tông hóa

Xã Phước Hậu đã đầu tư xây dựng, nâng cấp đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn, có những mô hình sản xuất hiệu quả cho giá trị kinh tế cao, giữ gìn hệ thống chính trị vững mạnh, chú trọng bảo vệ môi trường… Đến nay, thu nhập bình quân đầu người của xã đạt gần 61.64 triệu đồng/năm; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 0,19%; diện tích trồng rau ứng dụng công nghệ cao đạt 310,6 ha. Trong đó, 13,5 ha nhà màng và nhà lưới; 55 ha tưới tự động tiết kiệm và 241 ha sử dụng phân hữu cơ vi lượng, giúp cây rau phát triển tốt hơn, ít sâu bệnh hơn, giảm được số lần sử dụng thước bảo vệ thực vật, giảm nhân công…năng xuất cao hơn 15%-20% so với cách trồng theo phương pháp truyền thống.

 nang cao phuoc hau1.jpg
Sản xuất rau ứng dụng công nghệ cao góp phần tăng thu nhập cho người dân

Với sự quyết tâm cao của cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban ngành đoàn thể. Chương trình xây dựng NTM nâng cao được thực hiện đồng bộ các ngành từ xã đến ấp, nâng cao công tác tuyên truyền vận động, để nhân dân thấy được vai trò chủ thể của mình và mục đích ý nghĩa của chương trình.

Từ khi có Quyết định số 1617/QĐ-UBND, ngày 17/5/2018 của UBND Tỉnh Long An. Đảng uỷ xã đã ban hành Nghị quyết về xây dựng xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, HĐND, UBND xây dựng kế hoạch thực hiện. Đồng thời, chỉ đạo MTTQ, các ngành đoàn thể xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai, quán triệt rộng rãi trong đoàn viên, hội viên và nhân dân thực hiện.

Song song với việc lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền trong tập trung thực hiện nhiệm vụ thì công tác thông tin tuyên truyền cũng được quan tâm thực hiện; trong thời gian qua đã tuyên truyền các văn bản của TW, tỉnh, huyện, xã trong thực hiện xã NTM nâng cao trong thời gian qua đã tổ chức tuyên truyền được 52 cuộc với 2.658 lượt người dự, với hình thức tổ chức họp Đảng ủy, BCĐ, họp lệ UBND, sinh hoạt BCH các chi tổ hội, sinh hoạt tổ ANTT... Ngoài ra, tuyên truyền trên đài truyền thanh xã và 04 đài ấp gồm 30 tin bài.

Qua công tác triển khai, tuyên truyền, quán triệt về xây dựng xã nông thôn mới nâng cao toàn thể cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và quân chúng nhân dân nhận thức về xây dựng xã nông thôn mới nâng cao được nâng lên và đồng thuận cao, từ đó đã tạo ra sự lan tỏa rộng lớn trong cộng đồng xã hội tại địa phương.

Qua đó, trong tháng 01/2020, Sau khi kiểm tra về hồ sơ và thực địa các tiêu chí đã đạt được, Đoàn thẩm định NTM của Tỉnh đã đánh giá cao kết quả mà xã Phước Hậu đã đạt được. Đoàn thẩm định thống nhất xã Phước Hậu hoàn thành 05/05 tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao và vừa qua, UBND tỉnh đã ra quyết định công nhận xã Phước Hậu đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao .

Tuy nhiên để giữ vững đạt tiêu chí nông thôn mới nâng cao trong thời gian tới, xã Phước Hậu xây dựng tiến độ thực hiện trong thời gian tới:

Tiếp tục giữ vững các tiêu chí đạt bền vững và tập trung nâng chất các tiêu chí đạt chưa bền vững. Phát huy vai trò chủ thể của nhân dân tham gia thực hiện các tiêu chí nông thôn mới nâng cao.

Quản lý, sử dụng, duy tu, bảo trì, nâng cấp đảm bảo hiệu quả sử dụng các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội đã được đầu tư. Xây dựng hoàn chỉnh các tuyến đường trục xã, trục ấp sáng, xanh - sạch - đẹp, bằng nguồn kinh phí xã hội hóa.

Duy trì các trường đã đạt chuẩn là Tiểu học Phước Hậu, trường Mẫu giáo Phước Hậu đạt chuẩn theo quy định.

Tập trung phát triển vùng sản xuất rau ƯDCNC theo NQ 24-NQ/HU nhằm nâng cao thu nhập cho người dân. Chọn ấp Long Khánh làm ấp điểm để đầu tư nhà lưới tập trung; ấp Long Giêng làm khu vực sử dụng phân hữu cơ, chế phẩm sinh học kết hợp với nhà lưới, có hệ thống tưới phun tự động.

Phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT xây dựng thành công Hợp tác xã điểm, điển hình của tỉnh (HTX Phước Thịnh).

Phấn đấu tăng thu nhập bình quân đầu người lên từ 65-70 triệu đồng vào năm 2021.

Thực hiện hiệu quả các giải pháp, phương án cụ thể về bảo vệ môi trường, chủ động phòng chống thiên tai.

Nâng cao trình độ dân trí của người dân; tỉ lệ lao động có việc làm qua đào tạo; chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu và mức hưởng thụ các dịch vụ y tế ban đầu cho người dân và chất lượng các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao.

UBND xã tiếp tục phối hợp cùng MTTQVN xã, các đoàn thể, chi tổ hội vận động nhân dân cải tạo cảnh quan, môi trường xanh – sạch – đẹp, ra quân dọn dẹp kênh, đường giao thông nông thôn; vận động nhân dân chỉnh trang cổng, hàng rào, cột cờ, nhà có ảnh Bác.

Thực hiện có hiệu quả công tác đấu tranh, phòng chống các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, củng cố xây dựng phát triển lực lượng dân phòng, tổ an ninh trật tự nông thôn. Công tác phòng ngừa, đấu tranh nhằm hạn chế phát sinh các tụ điểm phức tạp về trật tự xã hội được thực hiện thường xuyên. Duy trì và phát huy mô hình camera an ninh đạt hiệu quả tốt hơn, đáp ứng nhu cầu trong giai đoạn mới.

Trần Thị Thêm
Chi cục PTNT và TL

20/02/2020 10:00 SAĐã ban hành
 Long An tìm phương án “giải cứu” gần 30.000 tấn thanh long Long An tìm phương án “giải cứu” gần 30.000 tấn thanh long

Diễn biến phức tạp của dịch bệnh do chủng mới virus corona đang xảy ra ở Trung Quốc đã ảnh hưởng đến việc thu mua thanh long của tỉnh Long An nói riêng và các tỉnh trồng thanh long xuất khẩu nói chung. Theo lãnh đạo Sở Công Thương các tỉnh thành phía Nam tại hội nghị, giải pháp trước mắt để giải cứu tiêu thụ thanh long hiện nay là cần kết nối, hỗ trợ các doanh nghiệp (DN) tiêu thụ tại thị trường nội địa.

 giai cuu thanh long.jpg
Ảnh: Phó Chủ tịch UBND tỉnh Long An - Phạm Văn Cảnh, Giám đốc Sở Công Thương Long An - Lê Minh Đức chủ trì hội nghị

Tỉnh Long An hiện có 11.836 ha thanh long, đạt 110% kế hoạch (10.800ha), bằng 105% so cùng kỳ năm 2019, trong đó, diện tích cho trái khoảng 10.281ha, tập trung chủ yếu ở huyện Châu Thành, Tân Trụ. Hiện tình hình tiêu thụ thanh long gặp nhiều khó khăn, phần lớn các cơ sở thu gom, kho thanh long trên địa bàn tỉnh không thu mua thanh long hoặc thu mua với giá thấp.

Theo Ông Lê Minh Đức - Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Long An – cho biết: Do tình hình dịch bệnh tại Trung Quốc nên một số khách hàng Trung Quốc đã hủy đơn hàng mua thanh long ruột đỏ của Hiệp hội Thanh long Long An và các doanh nghiệp và HTX thanh long trên địa bàn tỉnh. Hiện thanh long đang vào đợt thu hoạch ước sản lượng đến cuối tháng 02/2020 là khoảng 30.000 tấn, cộng với lượng tồn kho không mua vào, giá thanh long thấp (các kho phát giá 4.000-5.000 đồng/kg), nhà vườn gặp khó khăn, nguy cơ lỗ là không thể tránh khỏi.

Theo Chủ tịch Hiệp hội Thanh long Long An - Nguyễn Quốc Trịnh chia sẻ, trước tình cảnh khó khăn hiện nay, Hiệp hội đã có cuộc họp với các nhà kho, thống nhất giảm giá thu mua xuống mức 10.000 đồng/kg nhằm giảm thiệt hại thấp nhất cho nhà kho, nhà lái và nhà vườn. Tuy nhiên, do lượng hàng tồn kho và hàng thu hoạch khá nhiều các kho không thể dự trữ nên một số nhà kho đã phải đóng cửa không thu mua dẫn đến thanh long ở một số vườn trái vẫn treo trên cây, gây thiệt hại cho nhà vườn. 
 
giai cuu thanh long1.jpg
Ảnh: Thu mua thanh long tại HTX thanh long Tầm Vu, huyện Châu Thành

Để có những giải pháp tiêu thụ thanh long tại tỉnh Long An và các tỉnh ĐBSCL, ông Nguyễn Minh Toại - Giám đốc Sở Công Thương TP. Cần Thơ - cho rằng: Các đơn vị có điều kiện thu mua trên địa bàn các tỉnh trong khu vực cần điều phối các cơ sở có điều kiện thương mại giúp bà con thu mua tiêu thụ thanh long. Các Sở Công Thương các tỉnh thành trong khu vực cần vận động hỗ trợ, liên kết các DN địa phương để thu mua tiêu thụ thanh long của tỉnh Long An và các tỉnh thành có trồng thanh long nói chung. Riêng Sở Công Thương Cần Thơ sẽ kết nối, giới thiệu một số DN thu mua ở thành phố đến thu mua thanh long ở Long An về tiêu thụ ở địa phương. Ông Toại củng đề nghị, Long An cần tính toán lại chuỗi tiêu thụ nông sản, xây dựng chuỗi nông sản bền vững, đẩy mạnh sản xuất nông sản theo tiêu chuẩn VietGap, GlobalGap để nâng cao chất lượng cũng như tiêu chuẩn nông sản nói chung và thanh long nói riêng. Ngoài ra tỉnh cũng cần chỉ đạo hỗ trợ một nguồn kinh phí cho bà con nông dân làm chương trình VietGap, GlobalGap giúp nông sản nói chung và thanh long nói riêng đáp ứng nhu cầu tiêu chuẩn từ các nhà thu mua.

Đại diện Sở Công Thương tỉnh Tiền Giang cho rằng, để giải cứu thanh long, các ngành Công Thương cần tập trung vào thị trường nội địa, liên kết các Sở Công Thương, liệt kê địa chỉ mua hàng, tập kết thu mua thanh long, kết nối doanh nghiệp kho bãi tiêu thụ thị trường nội địa. “Chúng ta cần tự lực cánh sinh là chính, trước mắt là hỗ trợ tiêu thụ thanh long trong tỉnh tại các hệ thống như Big C, Coop mart, Bách hóa xanh… Đưa sản phẩm thanh long xuống các xã nông thôn, các khu công nghiệp, để thiêu thụ. Ngoài ra, chúng ta cần nghiên cứu hỗ trợ phí vận chuyển, chí phí lưu kho, gửi hàng để giúp DN và nông dân đỡ thiệt hại hơn” - đại diện Sở Công thương Tiền Giang nhấn mạnh.

Bà Nguyễn Huỳnh Trang – Phó Giám đốc Sở Công Thương TP.Hồ Chí Minh – cho rằng: Long An cần phải nâng cao chất lượng thanh long, giảm số lượng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, có thể từ 75% xuống còn 50 ; 40% để chúng ta không phụ thuộc vào thị trường này mà có thể xuất khẩu qua thị trường khác. Thời gian tới, TP. Hồ Chí Minh sẽ hỗ trợ kết nối các DN xuất khẩu thanh long để thu mua tiêu thụ sản phẩm thanh long của tỉnh Long An và các tỉnh trồng thanh nói chung.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Long An - Phạm Văn Cảnh giao Sở Công Thương tiếp tục phối hợp chặt chẽ với phía Hiệp hội Thanh long Long An nắm tình hình, kịp thời báo cáo lãnh đạo tỉnh, Bộ Công Thương để kịp thời chỉ đạo các giải pháp tiếp theo; chủ động kết nối các doanh nghiệp trong tỉnh có thực hiện chế biến sâu; đẩy mạnh tiêu thụ nội địa; xuất khẩu quả tươi đến các thị trường ngoài Trung Quốc, giảm thiệt hại cho nông dân./.

Công Thương
Chi cục PTNT và TL

17/02/2020 9:00 SAĐã ban hành
Mục tiêu, giải pháp phát triển mạng lưới Trường học đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn nông thôn giai đoạn 2021-2025Mục tiêu, giải pháp phát triển mạng lưới Trường học đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn nông thôn giai đoạn 2021-2025

Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Long An, đến nay toàn tỉnh đã có 78 xã đạt chuẩn nông thôn mới (NTM), chiếm 46,7% số xã toàn tỉnh, đạt 93,9% so với kế hoạch Trung ương giao và đạt 92,7% so với Nghị quyết Tỉnh ủy giao đến năm 2020, 01 xã nông thôn mới nâng cao và 01 huyện đạt chuẩn huyện nông thôn mới (huyện Châu Thành); bình quân mỗi xã đạt 16,4 tiêu chí; toàn tỉnh chỉ còn 01 xã đạt 9 tiêu chí. Tỉnh đã thẩm tra và hoàn chỉnh hồ sơ trình Trung ương thẩm định, công nhận huyện Châu Thành đạt chuẩn NTM và thành phố Tân An hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM

Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020, ngành Giáo dục xác định rõ mục tiêu thực hiện tiêu chí về trường học và tiêu chí về giáo dục. Cụ thể: đảm bảo 100% số xã thuộc địa bàn nông thôn hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non trẻ 5 tuổi và củng cố, duy trì, nâng cao kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở. Đến giữa giai đoạn năm 2015, có ít nhất 22% số xã đạt tiêu chí trường học và đến cuối giai đoạn năm 2020 có 80% học sinh tốt nghiệp THCS vùng nông thôn của 5 huyện vùng Đồng Tháp Mười và 85% ở các huyện còn lại được tiếp tục học sau trung cơ sở (phổ thông, giáo dục thường xuyên, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề).

Để hoàn thành mục tiêu đề ra, Ngành Giáo dục và Đào tạo đã thực hiện công tác tuyên truyền Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới qua việc phổ biến rộng rãi trong đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và đoàn thể xã hội về chủ trương tiêu chuẩn xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia. Đồng thời việc tuyên truyền xây dựng NTM còn được thực hiện lồng ghép qua các lớp tập huấn bồi dưỡng về xây dựng xã hội học tập, đẩy mạnh quá trình xây dựng các mô hình “Cộng đồng học tập”, “Đơn vị học tập” ở các xã, phường, thị trấn; lồng ghép với các cuộc vận động như: phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” và cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, gắn xây dựng NTM”. Phối hợp với các cơ quan Báo, Đài và các Sở ngành địa phương tăng cường thông tin, truyền thông về hoạt động đổi mới, kịp thời biểu dương những tập thể, đơn vị nhà trường, cá nhân các nhà giáo có sáng kiến, có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ, trong hoạt động đổi mới GD&ĐT.

Về quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục và đào tạo: Trong những năm qua, kinh tế, xã hội của Long An có sự đầu tư và phát triển nhất là quy hoạch xây dựng khu kinh tế công nghiệp, dịch vụ. Đây là thách thức lớn của ngành giáo dục và đào tạo tỉnh Long An trong việc phát triển mạng lưới trường, lớp đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng cao của các con em công nhân đến làm việc. Nhìn chung, hệ thống mạng lưới trường lớp về cơ bản đáp ứng việc tổ chức dạy và học trên địa bàn tỉnh, trong đó các điểm trường được bố trí đến tận vùng sâu, vùng xa. Thực hiện Kế hoạch số 24/KH-UBND ngày 02/02/2018 của UBND tỉnh về việc thực hiện Đề án số 02-ĐA/TU ngày 29/12/2017 của Tỉnh ủy về “Sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị tỉnh Long An theo Nghị quyết số 18-NQ/TW, 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII)”, Ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Long đã thực hiện sắp xếp tinh gọn bộ máy các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Long An, cụ thể như sau: 

muc tieu truong hoc.jpg 
Trường tiểu học xã An Lục Long huyện Châu Thành

Về mạng lưới giáo dục mầm non, phổ thông: có 192 cơ sở giáo dục mầm non công lập, giảm 02 đơn vị; có 203 cơ sở giáo dục tiểu học công lập, giảm 55 đơn vị; có 138 cơ sở giáo dục THCS công lập. Trong đó, có 18 cơ sở thuộc loại hình 02 cấp học (tiểu học và trung học cơ sở), tăng 18 đơn vị do sáp nhập; có 38 cơ sở giáo dục THPT công lập, giảm 05 đơn vị;  

Về mạng lưới giáo dục thường xuyên: Tỉnh đã thực hiện hợp nhất trung tâm KTTH&HN Long An và trung tâm GDTX tỉnh Long An thành trung tâm GDTX&KTTH tỉnh. Trong năm học 2018-2019, tỉnh Long An đã giải thể hoạt động các trung tâm giáo dục thường xuyên ở cấp huyện. Nhiệm vụ giáo dục thường xuyên được giao về các trường trung học phổ thông có trên địa bàn (hiện có 34 trường trung học phổ thông và 01 Trung tâm GDTX&KTTH tỉnh có thực hiện nhiệm vụ giáo dục thường xuyên). 

Tăng cường nguồn lực thực hiện chương trình

Sở GD&ĐT phối hợp với sở ngành, địa phương kịp thời tham mưu UBND Tỉnh trong việc tập trung nguồn lực đầu tư phát triển cho lĩnh vực giáo dục theo định hướng thực hiện đầu tư công có trọng điểm, tránh bình quân dàn trải, đầu tư đến đâu đảm bảo trường học đạt chuẩn đến đó. Tập trung đầu tư cho các trường học thuộc vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa để từng bước giảm sự chênh lệch về sự phát triển giáo dục giữa các vùng trong tỉnh. Cụ thể trong giai đoạn 10 năm xây dựng nông thôn mới nhằm đáp ứng tiêu chí trường học ở nông thôn, nguồn ngân sách địa phương tỉnh Long An đã thực hiện dự án đầu tư xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia qua 02 giai đoạn trên 2.841 tỷ đồng. Kết quả đến đầu năm 2019 có 301/612 đơn vị trường học đạt chuẩn quốc gia còn trong niên hạn 5 năm theo quyết định, đạt 49,18%. Trong đó, cấp mầm non đạt 43,30% (97/224 đơn vị); tiểu học đạt 56,04% (116/207 đơn vị); trung học cơ sở đạt 56,52% (78/138 đơn vị); trung học phổ thông đạt 23,26% (10/43 đơn vị). Có 99 đơn vị cấp xã đạt tiêu chí số 5 và có 01 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn Huyện nông thôn mới năm 2019.
 
muc tieu truong hoc1.jpg
Đoàn thẩm định xã đạt chuẩn NTM tỉnh thẩm định tiêu chí Trường học của xã Lương Hòa huyện Bến Lức

Giám sát chặt chẽ, công khai, minh bạch việc sử dụng kinh phí đầu tư công; tranh thủ hỗ trợ từ nguồn Xây dựng cơ bản tập trung và Xổ số kiến thiết và nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia (CT.MTQG) xây dựng nông thôn mới, tập trung xây dựng đủ phòng bộ môn, phòng chức năng theo qui định xây dựng trường chuẩn quốc gia; tập trung đầu tư xây dựng CSVC, mua sắm trang thiết bị dạy học theo hướng đồng bộ hóa, kiên cố hóa, đảm bảo đủ phòng học để dạy 02 buổi/ngày và mở rộng nâng cao chất lượng lớp bán trú; tuân thủ các quy chuẩn về thủ tục và quy trình đầu tư, từ việc thẩm định chủ trương dự án, lập phê duyệt dự án đầu tư, thẩm định dự án, đấu thầu, thực hiện dự án..v.v... Công khai các quy trình thủ tục, thời hạn, trách nhiệm trong từng khâu của quá trình triển khai dự án. Nâng cao năng lực và hiệu lực quản lý Nhà nước, xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành và phân cấp cho địa phương trong việc quản lý các dự án đầu tư. 

Tuy nhiên, phát triển mạng lưới Trường học đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn nông thôn vẫn còn một số hạn chế, tồn tại như: Mạng lưới trường lớp, quy mô phát triển giáo dục chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ thực tế; ở những địa phương có các khu, cụm công nghiệp phát triển, tỷ lệ trẻ tăng cơ học ngày càng nhiều và không ổn định đã ảnh hưởng đến việc đáp ứng đầy đủ nhu cầu học tập của con em công nhân và người lao động; một số trường học, sau khi sáp nhập, có số lớp vượt quá quy định của trường chuẩn quốc gia, ảnh hưởng đến quản lý hoạt động và nâng cao chất lượng giáo dục. Nguồn lực thu hút đầu tư cho giáo dục chưa tương xứng với tiềm năng phát triển giáo dục đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội; mức độ huy động nguồn lực giữa các địa phương khác nhau. Một số địa phương triển khai còn chậm và nhiều lúng túng. 

Mục tiêu giai đoạn 2021-2025

Phấn đấu đến cuối giai đoạn có 40%  tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS tiếp tục học tập tại các cơ sở giáo dục nghề nghệp có trình độ sơ cấp, trung cấp và 45% tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT tiếp tục học tập tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có trình độ cao đẳng; có 65% trường học đạt chuẩn quốc gia.

Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi huy động đến trường, lớp đến cuối năm 2025: trẻ nhà trẻ có 35%, mẫu giáo có 94%; tiểu học có 99,0%; THCS có 97,%; có 97% học sinh hoàn thành chương trình tiểu học; 88% học sinh hoàn thành chương trình trung học cơ sở.

Có 85% tỷ lệ thanh niên từ 16 tuổi trở lên tham gia giáo dục chính quy và phi chính quy; có 98,8% dân số từ 15 đến 60 tuổi biết chữ;

Có 85% các cơ sở giáo dục có công trình nước sạch; 100% cơ sở giáo dục có công trình vệ sinh đạt yêu cầu.

Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu

Một là: Phát huy vai trò trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức, các lực lượng xã hội trong hệ thống chính trị. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và đổi mới mạnh mẽ công tác quản lý nhà nước về giáo dục trên cơ sở đổi mới về tư duy và phương thức quản lý theo hướng nâng cao hiệu lực và hiệu quả.

Hai là: Làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức về chăm lo cho giáo dục là quốc sách hàng đầu của các cấp chính quyền và tầng lớp nhân dân; phát huy tác dụng tích cực của Ban đại diện cha mẹ học sinh, Hội đồng giáo dục; xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng xã hội trong việc tham gia làm chuyển biến chất lượng, phát triển giáo dục và đào tạo.

Ba là: Phối hợp quản lý và tổ chức tốt công tác phân luồng sau tốt nghiệp phổ thông, đặc biệt là phân luồng sớm sau THCS để đảm bảo nguồn nhân lực có chuyên môn và tay nghề đáp ứng kịp thời và tại chỗ nhu cầu lao động của tỉnh.

Bốn là: Tiếp tục đổi mới quản lý giáo dục, đặc biệt là tăng cường hiệu quả quản lý nhà trường; xây dựng cơ chế xác lập quyền tự chủ của nhà trường ở tất cả các cấp học, trình độ đào tạo; thực hiện kế hoạch giáo dục đi đôi với việc nâng cao năng lực quản trị nhà trường, trách nhiệm giải trình của đơn vị, cá nhân thực hiện nhiệm vụ và chức năng kiểm tra, giám sát.

Năm là: Xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục theo chuẩn nghề nghiệp, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo; đổi mới nội dung, chương trình giáo dục mầm non, phổ thông.

Sáu là: Ưu tiên đầu tư các hạng mục liên quan đến việc điều chỉnh mạng lưới trường, lớp ở những địa bàn phát triển khu, cụm công nghiệp và những địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhằm tạo sự phát triển cân đối giữa các vùng trên địa bàn tỉnh Long An; huy động lồng ghép các chương trình, dự án, các nguồn vốn từ ngân sách Trung ương và địa phương, các nguồn huy động xã hội hoá để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học một cách đồng bộ.

Bảy là: Tạo điều kiện cho mọi người, tổ chức, cá nhân tham gia đóng góp, đầu tư phát triển giáo dục nhất là đầu tư phát triển các loại hình giáo dục ngoài công lập tại các khu dân cư đô thị, khu dân cư mới và tại các khu, cụm công nghiệp./.

Anh Nhung
Chi cục PTNT và Thủy lợi

10/02/2020 9:00 SAĐã ban hành
Xây dưng nông thôn mới Long An – 10 năm nhìn lạiXây dưng nông thôn mới Long An – 10 năm nhìn lại


Long An là tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, với tổng diện tích tự nhiên 449.194 ha. Toàn tỉnh có 192 xã, phương, thị trấn. trong đó có 166 xã tham gia thực hiện xây dựng nông thôn mới. Sau 10 năm triển khai thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (XD NTM), Bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới rõ rệt với kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư theo hướng hiện đại và đồng bộ; đời sống vật chất tinh thần nhân dân không ngừng nâng cao, thu nhập bình quân đầu người/năm khu vực nông thôn tăng từ 15,6 triệu đồng năm 2010 lên 45 triệu đồng năm 2018; tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh từ 7,37 % năm 2010 xuống còn 2,21%. Trong sản xuất nông nghiệp đã xây dựng được các vùng sản xuất chuyên canh, tập trung, ứng dụng công nghệ c
ao có hiệu quả; chất lượng nông sản ngày càng tăng, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thông tin, thể dục thể thao ngày càng được chú trọng, mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân được nâng lên rõ rệt. Hệ thống chính trị ở nông thôn hoạt động ngày càng tiến bộ, có nhiều đổi mới; trật tự an toàn xã hội ở nông thôn được giữ vững, quốc phòng được củng cố.

 10 nam long an.jpg
Ông Phạm Văn Cảnh – Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Phó Ban Chỉ đạo Chương trình MTQG xây dựng NTM tỉnh trao bằng khen cho các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua “ Long An chung sức xây dựng nông thôn mới”

Nếu năm 2010, toàn tỉnh chưa có xã đạt trên 13 tiêu chí, đặc biệt là còn 67/166 xã đạt từ 2-5 tiêu chí; số tiêu chí đạt bình quân/xã 6 tiêu chí thì đến nay, toàn tỉnh đã có 77/166 xã đạt chuẩn NTM, bình quân mỗi xã đạt 16,4 tiêu chí; toàn tỉnh chỉ còn 01 xã đạt 9 tiêu chí. Để đạt được kết quả như ngày hôm nay là nhờ sự vào cuộc và quyết tâm của toàn dân và cả hệ thống chính trị trong đó sự lãnh đạo, chỉ đạo điều hành cũng như sự kịp thời ban hành các cơ chế, chính sách, hướng dẫn thực hiện…đã góp phần hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ đề ra.

Sự chỉ đạo, lãnh đạo, điều hành của các cấp, các ngành

Trên cơ sở chỉ tiêu xây dựng NTM của Đại hội Đảng bộ Tỉnh, HĐND tỉnh đã ban hành các nghị quyết chuyên đề; UBND tỉnh ban hành kế hoạch thực hiện Chương trình; các cấp ủy Đảng, chính quyền đã tích cực triển khai thực hiện; Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp xây dựng và triển khai thực hiện nhiều cuộc vận động, phong trào thiết thực có hiệu quả, góp phần tích cực cho xây dựng NTM; các cơ quan thông tin đại chúng, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên tăng cường công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức phong phú, qua đó làm cho người dân nhận thức rõ hơn về vai trò chủ thể của mình trong xây dựng NTM.
 
10 nam long an1.jpg

Nhìn chung, các cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội đã quán triệt, triển khai kịp thời các chủ trương, chính sách về xây dựng NTM, qua đó nhận thức của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân về xây dựng NTM được nâng lên rõ rệt, góp phần quan trọng trong việc đẩy nhanh tiến độ xây dựng NTM của tỉnh.

Kịp thời tham mưu ban hành cơ chế, chính sách thực hiện Chương trình 

Giai đoạn 2011-2019, tỉnh đã ban hành 50 văn bản chỉ đạo, điều hành thực hiện Chương trình, trong đó giai đoạn 2010-2015 ban hành 17 văn bản, giai đoạn 2016-2019 ban hành 33 văn bản. Nhiều cơ chế, chính sách trong xây dựng NTM đã được ban hành, triển khai thực hiện hiệu quả, như: Cơ chế hỗ trợ vốn ngân sách nhà nước; cơ chế phân bổ vốn trái phiếu Chính phủ, vốn xổ số kiến thiết; cơ chế khen thưởng công trình phúc lợi công cộng cho xã đạt chuẩn NTM... Ngoài ra, tỉnh cũng đã ban hành một số cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển sản xuất, như: Chính sách hỗ trợ cơ giới hóa; hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi; hỗ trợ phát triển trạm bơm điện vừa và nhỏ ở khu vực Đồng Tháp Mười; Đề án phát triển kinh tế tập thể...
 
10 nam long an2.jpg
Hệ thống các văn bản được ban hành và hướng dẫn thực hiện kịp thời

Nhìn chung, các văn bản chỉ đạo, điều hành thực hiện Chương trình được ban hành đúng theo quy định của Trung ương, phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh, phục vụ kịp thời cho việc chỉ đạo, điều hành thực hiện Chương trình của các cấp, các ngành trong tỉnh. Các cơ chế, chính sách thực hiện xây dựng NTM ngày càng có sự nâng cao hơn về chất lượng, đưa xây dựng NTM đi vào thực chất, được nhân dân đồng tình ủng hộ.

Thành lập và kiện toàn bộ máy chỉ đạo thực hiện Chương trình

Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng NTM các cấp được thành lập và thường xuyên củng cố, kiện toàn nên đã kịp thời chỉ đạo, điều hành thực hiện xây dựng NTM xuyên suốt từ tỉnh đến ấp. Văn phòng Điều phối NTM tỉnh và 15 đơn vị cấp huyện đã được thành lập; toàn bộ các xã đề bố trí công chức địa chính-nông nghiệp-xây dựng và môi trường để phụ trách, theo dõi xây dựng NTM.

Qua 10 năm triển khai thực hiện xây dựng NTM, toàn tỉnh đã đào tạo, bồi dưỡng kiến thức xây dựng NTM cho hơn 15.000 lượt cán bộ, công chức các cấp, trong đó cấp xã và ấp trên 12.000 lượt người. Nhìn chung, hầu hết cán bộ chủ chốt và công chức làm công tác xây dựng NTM các cấp đều được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cơ bản về xây dựng NTM, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai thực hiện Chương trình ngay tại cơ sở.
 
10 nam long an3.jpg
Văn phòng Điều phối NTM tỉnh tập huấn, bỗi dưỡng kiến thức cho cán bộ làm công tác xây dựng NTM tại huyện Cần Đước

Bên cạnh đó, tỉnh đã tập trung triển khai thực hiện Đề án công tác cán bộ giai đoạn 2011-2020, trong đó chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở. Do đó, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đã có bước trưởng thành nhanh, năng lực chuyên môn, tinh thần trách nhiệm và kỹ năng vận động quần chúng được nâng lên, hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành của chính quyền cơ sở có nhiều tiến bộ.

Tuyên truyền, nâng cao nhận thức về xây dựng NTM

Tuyên truyền, vận động được xác định là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, quyết định đến tiến độ xây dựng NTM, nên tỉnh đã chủ động ban hành và tổ chức triển khai kế hoạch tuyên truyền xây dựng NTM. Các cấp, các ngành đã triển khai thực hiện các hoạt động tuyên truyền xây dựng NTM bằng nhiều hình thức phong phú, phù hợp với từng nhóm đối tượng. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp đã tích cực tuyên truyền, vận động các thành viên, hội viên tham gia thực hiện xây dựng NTM thông qua việc lồng ghép với các Phong trào do các tổ chức hội phát động. Các huyện, thị xã, thành phố đã xây dựng các pano, tờ rơi tuyên truyền về xây dựng NTM; tổ chức các hội thi tìm hiểu về xây dựng NTM; đăng tải các tin, bài viết tuyên truyền về xây dựng NTM trên Đài truyền thanh huyện, xã và trên Cổng thông tin điện tử huyện. Các cơ quan thông tin truyền thông (Báo Long An, Đài phát thanh và truyền hình Long An, Đài truyền thanh cấp huyện...) đã mở chuyên trang, chuyên mục, tăng thời lượng tuyên truyền, phổ biến các hoạt động xây dựng NTM. 

 10 nam long an4.jpg
Hội thi “Nông dân chung sức xây dựng nông thôn mới năm 2019” do BCH Hội nông dân tỉnh tổ chức

Bên cạnh đó, UBND tỉnh còn phối hợp với các Ban của Đảng (Ban Dân vận, Ban Tuyên giáo), Ủy ban MTTQ tỉnh và các tổ chức chính trị - xã hội tỉnh đẩy mạnh các hoạt động hưởng ứng Phong trào thi đua “Long An chung sức xây dựng NTM” và Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng NTM, đô thị văn minh”.

Sau 10 năm triển khai thực hiện công tác tuyên truyền, nhận thức của cán bộ công chức và người dân về xây dựng NTM đã có chuyển biến rõ rệt, người dân ngày càng tích cực, chủ động tham gia xây dựng NTM bằng nhiều cách làm sáng tạo, do đó xây dựng NTM đã thực sự trở thành phong trào rộng khắp trong toàn tỉnh.

Huy động nguồn lực thực hiện Chương trình 

Giai đoạn 2011 - 2019, toàn tỉnh đã huy động được khoảng 123.261,4 tỷ đồng để thực hiện chương trình, trong đó: Vốn ngân sách Trung ương hỗ trợ trực tiếp 999,7 tỷ đồng, chiếm 0,8%; vốn ngân sách tỉnh hỗ trợ trực tiếp 573 tỷ đồng, chiếm 0,5%; vốn lồng ghép các chương trình, dự án trên địa bàn 10.835,3 tỷ đồng, chiếm 8,8%; vốn huy động từ doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế 550 tỷ đồng, chiếm 0,4%; vốn huy động cộng đồng dân cư 6.673,2 tỷ đồng, chiếm 5,4%; vốn tín dụng 103.630 tỷ đồng, chiếm 84,1%.

Nhìn chung các ngành, các cấp đã chủ động và tập trung lồng ghép có hiệu quả các nguồn vốn để thực hiện xây dựng NTM, nhất là vốn tín dụng. Việc huy động người dân đóng góp xây dựng NTM được thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch và không có tình trạng huy động quá sức dân, nên được nhân dân đồng tình hưởng ứng.

Kiểm tra, giám sát thực hiện Chương trình

Các thành viên Ban Chỉ đạo xây dựng NTM các cấp đã lồng ghép công tác kiểm tra, giám sát xây dựng NTM vào chương trình công tác hàng năm và trực tiếp chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra tình hình thực hiện xây dựng NTM ở địa bàn được phân công phụ trách. Ngoài ra, hàng năm, Ban Chỉ đạo xây dựng NTM tỉnh đều thành lập Đoàn và tổ chức kiểm tra, giám sát theo chuyên đề, nhằm nắm bắt tình hình triển khai thực tế và hướng dẫn các địa phương thực hiện hiệu quả các cơ chế, chính sách trong xây dựng NTM.

Bên cạnh những kết quả đạt được, xây dựng NTM còn một số hạn chế, vướng mắc như: Khả năng cạnh tranh của một số nông sản hàng hóa chưa cao, cơ sở chế biến nông sản chưa gắn kết chặt với vùng nguyên liệu; liên kết trong sản xuất phát triển chậm và thiếu bền vững; tình trạng ô nhiễm môi trường ở nông thôn còn diễn biến phức tạp, chất thải trong chăn nuôi chưa được xử lý triệt để, cảnh quan nông thôn phát triển chưa bền vững; việc huy động nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn còn nhiều khó khăn.

Anh Nhung
Chi cục PTNT và Thủy lợi

17/01/2020 9:00 SAĐã ban hành
Hội thảo báo cáo cuối kỳ Dự án “Nghiên cứu xây dựng định hướng, cơ chế, chính sách phát triển hệ thống trung tâm cung ứng nông sản Việt Nam hiện đại giai đoạn 2018-2020 và định hướng đến 2030”Hội thảo báo cáo cuối kỳ Dự án “Nghiên cứu xây dựng định hướng, cơ chế, chính sách phát triển hệ thống trung tâm cung ứng nông sản Việt Nam hiện đại giai đoạn 2018-2020 và định hướng đến 2030”

Ngày 18/11/2019, tại TPHCM, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT) tổ chức Hội thảo báo cáo cuối kỳ Dự án “Nghiên cứu xây dựng định hướng, cơ chế, chính sách phát triển hệ thống trung tâm cung ứng nông sản Việt Nam hiện đại giai đoạn 2018-2020 và định hướng đến 2030”. Chủ trì Hội thảo do Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn-Trần Thanh Nam, tham dự Hội thảo có ông Nguyễn Minh Tiến-Chánh văn phòng điều phối nông thôn mới trung ương, Ông Trần Công Thắng- Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược PTNNNT, cùng đại diện các Bộ ngành Trung ương, các chuyên gia quốc tế, Đại diện lãnh đạo Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh, Đại diện các Doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực nông nghiệp.
 
hoithaobaocao2019.jpg
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn-Trần Thanh Nam, phát biểu khai mạc Hội Thảo

Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn- Trần Thanh Nam cho biết, trên cơ sở đề xuất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc xây dựng một trung tâm cung ứng nông sản xuất nhập khẩu hiện đại, Thủ tướng đã đồng ý chủ trương và giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng đề án. Sau hơn một năm triển khai, đến nay Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã cơ bản hoàn tất các nội dung. Theo đó, Hội thảo được tổ chức nhằm lấy ý kiến lần cuối trước khi hoàn thiện đề án để trình Thủ tướng.

Ông Trần Công Thắng-Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược PTNNNT, đại diện đơn vị tư vấn xây dựng đề án trình bày dự thảo Đề án. Theo đó, trong giai đoạn thí điểm 2020 – 2025, Đề án đặt mục tiêu sẽ hoàn thiện khung cơ chế chính sách hỗ trợ, thu hút doanh nghiệp đầu tư theo hình thức PPP vào hệ thống cung ứng nông sản hiện đại Việt Nam. Đồng thời xây dựng thí điểm khoảng 2 - 3 trung tâm cung ứng nông sản hiện đại (Hà Nội, TPHCM, Cần Thơ); 2 - 3 trung tâm thu gom nông sản và thủy sản (Kiên Giang, Bà Rịa – Vũng Tàu); 2 trung tâm cung ứng nông sản đường biên (Quảng Ninh, Lào Cai, Lạng Sơn) và khoảng 20 chợ thực phẩm an toàn cấp xã kết nối với hệ thống trung tâm cung ứng nông sản trên cơ sở đề xuất trong Đề án.

Bên cạnh đó, trong giai đoạn 2020 – 2030, trên cơ sở đánh giá kết quả thực hiện thí điểm các mô hình của hệ thống Trung tâm cung ứng nông sản hiện đại trong giai đoạn 2020-2025, triển khai nhân rộng các mô hình với tầm nhìn đến 2045 trên cả nước tại các tỉnh có tiềm năng, có doanh nghiệp tham gia đầu tư theo hình thức PPP trên cơ sở đề xuất trong Đề án. Cùng với đó, từng bước phát triển kết nối giữa hệ thống trung tâm cung ứng nông sản hiện đại trong nước liên kết với một số hệ thống thương mại nông sản trên thế giới nhằm đẩy mạnh tiêu thụ và kiểm soát chất lượng trong xuất nhập khẩu hàng nông sản.
 
hoithaobaocao20191.jpg
Quang cảnh Hội thảo

Giải pháp chính thực hiện đề án là phát triển đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng và logistics, tăng cường ứng dụng công nghệ 4.0 trong xây dựng mạng cung ứng nông sản kỹ thuật số, phát triển nguồn nhân lực, triển khai hiệu quả các giải pháp huy động các nguồn vốn…

Đến nay, kết quả Dự án “Nghiên cứu xây dựng định hướng, cơ chế, chính sách phát triển hệ thống trung tâm cung ứng nông sản Việt Nam hiện đại giai đoạn 2018-2020 và định hướng đến năm 2030” đã góp phần quan trọng hoàn thành dự thảo Đề án. Trong đó, đánh giá thực trạng hoạt động và triển vọng cải thiện hệ thống trung tâm cung ứng nông sản gắn với các vùng sản xuất chính tại Việt Nam, nêu bật được kinh nghiệm quốc tế (Pháp) và những bài học có thể áp dụng vào Việt Nam, xây dựng bộ bản đồ hiện trạng hệ thống chợ đầu mối nông sản gắn với các vùng nguyên liệu chính trên cả nước, xây dựng các tiêu chí hệ thống cung ứng nông sản hiện đại, đề xuất giải pháp, cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển hệ thống cung ứng nông sản hiện đại….

Phát biểu kết luận Hội thảo, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT-Trần Thanh Nam nhấn mạnh: Phát triển hệ thống trung tâm cung ứng nông sản Việt Nam hiện đại là vấn đề quan trọng, nhằm kết nối tốt hơn sản xuất với phân phối và tiêu dùng nông sản tại thị trường nội địa và phục vụ xuất khẩu. Đồng thời, bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, thương mại và dịch vụ phát triển. Bên cạnh đó, Thứ trưởng đề nghị đơn vị tư vấn trên cơ sở ý kiến đóng góp của đại biểu, khẩn trương hoàn chỉnh dự thảo và báo cáo Bộ NN-PTNT xem xét trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án trong tháng 12/2019.

Phạm Hoàng Long
Phó chánh văn phòng Điều phối NTM tỉnh








22/11/2019 3:15 CHĐã ban hành
Sử dụng thiết chế tín ngưỡng dân gian làm Điểm sinh hoạt văn hóa, thể thao ấp - một cách làm sáng tạo và phù hợp trong xây dựng nông thôn mớiSử dụng thiết chế tín ngưỡng dân gian làm Điểm sinh hoạt văn hóa, thể thao ấp - một cách làm sáng tạo và phù hợp trong xây dựng nông thôn mới


Năm 2010, toàn tỉnh chưa có xã đạt tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa, tuy nhiên qua 10 năm thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM), đến nay toàn tỉnh đã có 120 xã đạt tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa, chiếm 72,3% số xã toàn tỉnh; 192 Trung tâm Văn hóa Thể thao và Học tập cộng đồng xã, phường được đầu tư xây dựng mới, sửa chữa, nâng cấp (xây mới 137 Trung tâm, sửa chữa nâng cấp 55 Trung tâm); 980 ấp. khu phố có Nhà Văn hóa, chiếm 94,6% (trong đó 401 nhà kiên cố được xây dựng mới); có trên 1.440 sân bãi tập luyện các môn thể thao (206 sân Bóng đá, 234 sân Bóng chuyền, 01 sân bóng rổ, 166 sân cầu lông và Đá cầu, 62 sân Quần vợt, 38 hồ bơi, 29 phòng tập thể dục thẩm mỹ và Thể hình, 12 sân patin, 74 sân tập luyện Võ Thuật, 40 tụ điểm bóng bàn, 03 nhà tập luyện thể thao).
 
thiet che vh 2019.jpg
Trung tâm VHTT và Học tập cộng đồng xã Thạnh Hưng, huyện Tân Hưng
được đầu tư đạt chuẩn từ nguồn vốn ngân sách tỉnh

Có thể thấy, qua 10 năm thực hiện xây dựng NTM, các thiết chế văn hóa thể thao ở xã, ấp được quan tâm đầu tư với quy mô phù hợp, đáp ứng nhu cầu thực tế của người dân và tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa là một trong hai tiêu chí có tốc độ đạt nhanh nhất (chỉ đứng sau tiêu chí quy hoạch).

Ngoài sự tập trung đầu tư của ngân sách tỉnh (đầu tư Trung tâm Văn Hóa Thể thao và Học tập cộng đồng xã), thì chủ trương cho sử dụng thiết chế tín ngưỡng dân gian làm Điểm sinh hoạt văn hóa, thể thao ấp đã tạo điều kiện thuận lợi cho các xã trong việc triển khai thực hiện tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa trong Bộ tiêu chí xã NTM.

Cần Đước là địa phương tiêu biểu của tỉnh trong việc vận động, sử dụng thiết chế tín ngưỡng dân gian làm Điểm sinh hoạt văn hóa, thể thao ấp. Theo ông Phan Văn Tưởng – PCT.UBND huyện Cần Đước: Hầu hết các ấp trên địa bàn huyện Cần Đước đều có các thiết chế tín ngưỡng dân gian là miếu hoặc đình. Từ trước đến nay, hầu hết người dân đều coi đình, miếu là nơi sinh hoạt của cộng đồng ấp và người dân dù đi đâu xa nhưng cứ đến dịp lễ hội lại quay trở về tụ hội dưới mái đình. Do đó, việc sử dụng thiết chế tín ngưỡng dân gian làm Điểm sinh hoạt văn hóa, thể thao ấp rất phù hợp với phong tục, tập quán tốt đẹp của người dân Cần Đước.
 
thiet che vh 20191.jpg
Ông Phan Văn Tưởng – PCT.UBND huyện Cần Đước chia sẻ  kinh nghiệm sử dụng thiết chế
tín ngưỡng dân gian làm Điểm sinh hoạt văn hóa thể thao của ấp tại huyện Cần Đước

Cũng theo ông Phan Văn Tưởng: Trong thời gian qua, việc huy động nguồn lực để đầu tư xây dựng Nhà Văn hóa-Khu thể thao ấp còn gặp rất nhiều khó khăn, như: Thiếu quỹ đất công để xây dựng; chi phí san nền, đầu tư xây dựng lớn, trong khi đó việc vận động người dân góp vốn đối ứng theo quy định như hiện nay (vốn ngân sách nhà nước 40%, vốn nhân dân góp 60%) rất ít nơi làm được. Chính vì vậy, việc sửa chữa, nâng cấp các thiết chế tín ngưỡng dân gian làm Điểm sinh hoạt văn hóa thể thao ấp sẽ giảm áp lực đầu tư của ngân sách nhà nước và giảm sự đóng góp của người dân. Ngoài ra, người dân còn tự bầu Thủ từ - người cùng các cụ cao niên trông coi, dọn dẹp sạch sẽ đình, miếu, do đó những miếu, đình được sử dụng làm Điểm sinh hoạt văn hóa thể thao luôn sạch đẹp, trang nghiêm. 

Để việc sử dụng miếu, đình là Điểm sinh hoạt văn hóa, thể thao của ấp một cách hiệu quả, hàng năm, huyện Cần Đước chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, các xã phải thống nhất với Ban quản lý, Ban Hội hương của các miếu, đình và tiến hành khảo sát, hỗ trợ trang thiết bị, cơ sở vật chất cho các miếu, đình được sử dụng làm Điểm sinh hoạt văn hóa thể thao cho nhân dân. Đối với những miếu, đình đã xuống cấp thì địa phương tổ chức vận động các mạnh thường quân, những con em xa quê của chính người dân trong ấp đóng góp để trùng tu, sửa chữa khôi phục lại, kết hợp sử dụng làm Điểm sinh hoạt văn hóa thể thao ấp. 

Toàn huyện Cần Đước đã có 75 ấp có nhà văn hóa – khu thể thao ấp (chiếm 70% số ấp toàn huyện), trong đó 32 ấp sử dụng miếu, đình làm Điểm sinh hoạt văn hóa thể thao; 10 xã đạt tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa, chiếm 62,5% số xã toàn huyện. Các ấp có sử dụng miếu, đình làm điểm sinh hoạt văn hóa đã tích cực tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, vui chơi giải trí; thực hiện tuyên truyền phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước cho người dân, nhất là việc tổ chức các lớp tập huấn phổ biến kiến thức và sáng kiến kinh nghiệm trong sản xuất, góp phần hình thành môi trường văn hóa nông thôn lành mạnh, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân.
 
thiet che vh 20192.jpg
Miếu Bà Chúa Xứ được sử dụng làm Điểm sinh hoạt văn hóa thể thao của ấp Bà Chủ,
xã Tân Lân, huyện Cần Đước

 Các thiết chế tín ngưỡng dân gian nói chung và miếu, đình nói riêng đều chứa đựng hồn cốt văn hóa địa phương, là nơi quy tụ, gắn kết cộng đồng, kết tinh những giá trị nhân văn sâu sắc… Việc tổ chức triển khai các hoạt động sinh hoạt, văn hóa thể thao của cộng đồng tại các miếu, đình như: Họp dân để triển khai các chủ trương, tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật, tổ chức các hội thi văn nghệ, thể thao quấn chúng… là gắn với văn hóa tâm linh, do đó luôn được người dân đồng tình, hưởng ứng, nhiệt tình tham gia; chất lượng, cũng như hiệu quả của các cuộc sinh hoạt, văn hóa thể thao được đảm bảo, góp phần giữ gìn những giá trị, những nét đẹp văn hóa truyền thống. Đây là cách làm thực sự hiệu quả trong xây dựng NTM ở huyện Cần Đước.
 
thiet che vh 20193.jpg
Miếu Bà – nơi được sử dụng làm Điểm sinh hoạt nhà văn hóa,  thể thao của 
ấp Nhà Trường, xã Tân Lân, huyện Cần Đước

Việc kết hợp sử dụng thiết chế tín ngưỡng dân gian với thiết chế văn hóa thể thao là rất hiệu quả, vừa huy động được sức mạnh của cộng đồng, vừa tạo được sự đồng thuận cao của nhân dân, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các xã trong việc thực hiện hoàn thiện các tiêu chí xã NTM, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân.

Nguyễn Sỹ Xương
Văn phòng Điều phối nông thôn mới tỉnh

18/10/2019 10:00 SAĐã ban hành
Phụ nữ xã Tân Lập huyện Tân Thạnh tích cực tham gia duy trì và nâng chất xã đạt chuẩn xã văn hóa và xây dựng xã nông thôn mớiPhụ nữ xã Tân Lập huyện Tân Thạnh tích cực tham gia duy trì và nâng chất xã đạt chuẩn xã văn hóa và xây dựng xã nông thôn mới


Cùng với việc thực hiện có hiệu quả các phong trào thi đua, thời gian qua, Hội Phụ nữ xã Tân Lập huyện Tân Thạnh đã tích cực tham gia duy trì và nâng chất xã đạt chuẩn xã văn hóa (XVH) và xây dựng xã nông thôn (NTM). Những kết quả đạt được của phụ nữ xã Tân Lập, huyện Tân Thạnh đã góp phần quan trọng cùng với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương duy trì và nâng chất xã đạt chuẩn XVH và xây dựng xã NTM 

Bà Phan Thị Mai, Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Tân Lập huyện Tân Thạnh cho biết: Bên cạnh việc thực hiện các phong trào thi đua và thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của tổ chức Hội, thời gian qua, phụ nữ xã đã tích cực, chủ động tham gia cùng với địa phương duy trì và nâng chất xã đạt chuẩn XVH và xây dựng xã NTM  bằng những việc làm cụ thể, thiết thực.

Để làm tốt nhiệm vụ này, Hội Phụ nữ xã đã đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng nhằm nâng cao trình độ mọi mặt cho hội viên phụ nữ. Nội dung tuyên truyền tập trung vào các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và chương trình hành động của tổ chức Hội, thu hút 100% cán bộ, trên 90% hội viên phụ nữ tham gia. Hội Phụ nữ xã phối hợp các ban, ngành, đoàn thể tổ chức phổ biến các văn bản pháp luật cho cán bộ, hội viên phụ nữ, nhất là những bộ luật có liên quan đến phụ nữ, trẻ em như: Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Hôn nhân gia đình...; phối hợp tuyên truyền phòng chống các tệ nạn ma túy, buôn bán phụ nữ, trẻ em, giáo dục phổ biến Luật An toàn giao thông đường bộ... thu hút 5.994 lượt cán bộ, hội viên tham gia. Nhờ vậy, nhận thức của chị em hội viên, phụ nữ xã không ngừng được nâng cao.

Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Hội Phụ nữ xã đã tập trung chỉ đạo gắn việc hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế với thực hiện các chương trình kinh tế trọng điểm của xã. Cụ thể là phối hợp với Ban chỉ đạo xoá đói giảm nghèo của xã tiến hành khảo sát, phân loại hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ, tìm nguyên nhân nghèo, từ đó giao chỉ tiêu cho từng chi hội giúp phụ nữ nghèo với các biện pháp phù hợp như: Giúp tín chấp cho vay vốn, giúp đỡ ngày công...; kết quả đã giúp thoát nghèo 23 hộ, trong đó có 11 hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ, góp phần làm giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn xã đến cuối năm 2019 xuống còn 3,7%,

Thực hiện nghị quyết của Đảng ủy, phụ nữ xã Tân Lập huyện Tân Thạnh đã chủ động tham gia thực hiện các chương trình kinh tế trọng điểm của xã với các phong trào “Phụ nữ sản xuất kinh doanh giỏi”, “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình”.

Trong sản xuất nông nghiệp, chị em đã mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, từng bước ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật đưa giống mới có năng suất, chất lượng cao vào quá trình sản xuất. Nhiều chị em đã mạnh dạn đầu tư sản xuất, kinh doanh đem lại hiệu kinh tế quả cao

Trong những năm qua mô hình “5 không 3 sạch” có 8 tiêu chí, thực hiện hiệu quả theo từng tiêu chí, duy trì tiêu chí 3 sạch “phân loại rác tại nguồn”, “tổ phụ nữ không có con em bỏ học và suy dinh dưỡng”, phát huy tiêu chí không đói nghèo “nhóm phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế không đói nghèo”
 
phu nu xa tan lap 2019.jpg
Mô hình phân loại rác tại nguồn của hội phụ nữ xã Tân Lập huyện Tân Thạnh

Ngoài ra, tranh thủ nguồn lực từ cấp trên, Hội đã tổ chức 01 lớp nghề lao động nông thôn có 33 hội viên tại ấp Trương công Ý trong đó phụ nữ là 27 chị.  

Một trong những việc làm thiết thực nữa của Hội Phụ nữ xã Tân Lập huyện Tân Thạnh nhằm góp phần thực hiện thành công duy trì và nâng chất xã đạt chuẩn XVH và xây dựng xã NTM là vận động chị em hiến đất, tài sản, làm hàng rào, hưởng ứng phong trào ánh sáng an ninh... với tổng trị giá quy đổi thành tiền gần 1tỷ đồng và 5.141 ngày công. Những tấm gương của các chị đã có sức lan tỏa mạnh mẽ trong việc vận động toàn dân tham gia duy trì và nâng chất xã đạt chuẩn XVH và xây dựng xã NTM. Phấn đấu đến cuối năm 2019, xã đạt thêm 02 tiêu chí là hộ nghèo và môi trường; nâng tổng số tiêu chí Nông thôn mới lên 15/19 tiêu chí.

Những kết quả đạt được của Hội Phụ nữ xã Tân Lập huyện Tân Thạnh đã góp phần không nhỏ cùng với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân toàn xã duy trì và nâng chất xã đạt chuẩn XVH và xây dựng xã NTM

Nguyễn Thị Kim Ngân
Xã Tân Lập Huyện Tân Thạnh

16/10/2019 10:00 SAĐã ban hành
Diễn đàn kinh tế hợp tác, hợp tác xã năm 2019: Cơ hội và thách thức phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xãDiễn đàn kinh tế hợp tác, hợp tác xã năm 2019: Cơ hội và thách thức phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã


Ngày 14/10/2019, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Mỹ Đình, Hà Nội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Liên Minh Hợp tác xã Việt Nam tổ chức Diễn đàn Kinh tế hợp tác, Hợp tác xã năm 2019 với chủ đề cơ hội và thách thức phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã. Chủ trì diễn đàn có Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ Vương Đình Huệ, cùng các đồng chí: Cao Đức Phát, Phó Ban Kinh tế Trung ương; Nguyễn Chí Dũng, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Nguyễn Ngọc Bảo, Chủ tịch Liên Minh HTX Việt Nam; Các ban ngành đoàn thể trung ương, lãnh đạo một số UBND các tỉnh; Các chuyên gia, nhà khoa học, tổ chức quốc tế; các hợp tác xã, các doanh nghiệp…

dien dan ktht 2019.jpg 

Diễn đàn có  hai phiên thảo luận chuyên đề: (1) Chính sách và pháp luật thúc đẩy phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã; (2) Khơi thông tiềm năng phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã.

Các bộ ngành, nhà khoa học, các hợp tác xã đã có báo cáo tham luận, phát biểu. Các ý kiến tập trung phản ánh những kết quả đạt được, những vấn đề khó khăn vướng mắc trong tổ chức và hoạt động kinh tế tập thể và đề xuất kiến nghị các giải pháp để phát triển kinh tế tập thể, thống nhất các chủ trương phát triển kinh tế tập thể tương đối đồng bộ đã góp phần phát triển kinh tế tập thể, khẳng định kinh tế hợp tác mà chủ yếu là hợp tác xã đã thoát khỏi tình trạng yếu kém kéo dài, với số lượng hợp tác xã phát triển nhanh trong những năm gần đây, số hợp tác xã trong lĩnh vực nông nghiệp hoạt động có hiệu quả đã tăng lên rõ rệt.

Tuy nhiên kinh tế hợp tác, hợp tác xã có bước phát triển và hoạt động dần có hiệu quả nhưng vẫn chưa xứng tiềm năng, còn nhiều khó khăn, bất cập, năng lực nội tại một số nơi còn yếu, nhận thức về hợp tác xã một số nơi vẫn chưa rõ tư duy theo hợp tác xã kiểu mới. Hướng giải pháp cần phải tăng cường hơn nữa trong quan tâm chỉ đạo của ban chỉ đạo kinh tế tập thể, tuyên tryền nâng cao nhận thức. Lưu ý quan tâm phát triển số lượng thành viên hợp tác xã để càng lớn mạnh trong tình hình kinh tế cạnh tranh gay gắt hiện nay. Qua các ý kiến diễn đàn, Phó thủ tướng kết luận:

1. Hướng tới cần phải hoàn thiện, sửa đổi Luật Hợp tác xã 2012 cho phù hợp thực tiễn, cần nghiên cứu mở rộng về phạm vi điều chỉnh. Nghiên cứu các quy định về tài sản không chia, giá trị gia tăng huy động nguồn lực cho tài sản không chia, tỉ lệ góp vốn, HTX chuyển đổi doanh nghiệp, vấn đề kiểm toán hợp tác xã (ở các nước do Liên Minh Hợp tác xã)

2. Tập trung xử lý các vấn đề vướng mắc như: nhiều trường hợp các hợp tác xã nông nghiệp đã ở tình trạng giải thể, phá sản nhưng không thể giải thể được, nguyên nhân do còn tồn đọng các khoản nợ. Bên cạnh đó cần có cơ chế chính sách thích đáng xử lý tồn đọng để chuyển giao. 

3. Tập trung giải pháp về chính sách, tập trung quan tâm để triển khai chính sách để đi vào thực tế (tín dụng, đất đai, thuế, trình độ cán bộ được đào tạo...). Các chính sách cần hướng theo nguyên tắc thị trường, tránh nhà nước buông lỏng nhưng cũng tránh xu hướng chờ đợi nhà nước mà không có chủ động, tự lực vươn lên. Tích tụ ruộng đất để tập trung sản xuất lớn. Có sự gắn kết doanh nghiệp với hợp tác xã để phát triển gắn với chuỗi giá trị. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực hợp tác xã, củng cố tổ chức, tăng cường công tác chỉ đạo điều hành.

Qua diễn đàn Kinh tế hợp tác, Hợp tác xã năm 2019 các đại biểu đã nêu lên và thảo luận những vấn đề khó khăn vướng mắc trong quá trình phát triển kinh tế hợp tác 15 năm qua. Từ đó có định hướng đưa ra các giải pháp phát triển kinh tế hợp tác mà nòng cốt là hợp tác xã trong thời gian tới./.

Lê Hồng Sơn
PCCT Chi cục Phát triển nông thôn và Thủy lợi

15/10/2019 10:00 SAĐã ban hành
Hội thảo truyền thông Dự án VNSAT tỉnh Long AnHội thảo truyền thông Dự án VNSAT tỉnh Long An

Vào đầu tháng 10 năm 2019, tại xã Vĩnh Thuận, huyện Vĩnh Hưng và xã Bình Hiệp thị xã Kiến Tường, Ban quản lý Dự án VnSAT tỉnh Long An tổ chức Hội thảo truyền thông về Dự án chuyển đổi nông nghiệp bền vững tại Việt Nam – tỉnh Long An (gọi tắt là Dự án VnSAT). Đối tượng được truyền thông là các thành viên liên kết của các hợp tác xã trong vùng dự án. Tham dự Hội thảo có đại diện các thành viên Ban quản lý Dự án VnSat tỉnh, tổ dự án huyện gồm phòng Nông nghiệp Phát triển nông thôn (phòng kinh tế), trung tâm dịch vụ của huyện Vĩnh Hưng và thị xã Kiến Tường, đại diện đảng ủy, UBND xã Vĩnh Thuận và xã Bình Hiệp cùng tham dự của Hội đồng quản trị và thành viên của hợp tác xã nông nghiệp Vĩnh Thuận và hợp tác xã nông nghiệp ấp ông Nhan Đông.

vnsat 2019.jpg
Ban quản lý Dự án tỉnh thông tin về Dự án VnSAT

Đại diện Ban quản lý Dự án VnSAT tỉnh đã thông tin cơ bản về Dự án “chuyển đổi nông nghiệp bền vững tại Việt Nam” VnSAT do Ngân hàng thế giới (WB) tài trợ và được triển khai thực hiện tại 13 tỉnh, thành phố gồm: Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng, An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Sóc Trăng, Tiền Giang. Mục tiêu chung của Dự án  là góp phần triển khai thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp thông qua tăng cường năng lực thể chế của ngành, đổi mới phương thức quản lý canh tác bền vững và nâng cao chuỗi giá trị cho 02 ngành hàng lúa gạo và cà phê ở 02 vùng sản xuất là Tây Nguyên và Đồng bằng Sông Cửu Long. Long An là một trong 8 tỉnh Đồng bằng song Cửu Long thực hiện về lúa gạo. Hợp phần Phát triển lúa gạo bền vững với 03 mục tiêu là tăng thu nhập cho nông dân; giảm tác động tiêu cực tới môi trường từ thâm canh lúa; tăng khả năng cạnh tranh của ngành hàng lúa gạo. Dự án gồm 3 bước: bước 1, hỗ trợ áp dụng công nghệ sản xuất lúa gạo và quản lý tiên tiến; bước 2, hỗ trợ đầu tư tư nhân vào công nghệ và thiết bị chế biến; bước 3, nâng cao hiệu quả dịch vụ công. Hoạt động hỗ trợ chính của dự án là chuyển giao công nghệ sản xuất lúa theo phương pháp (3 giảm 3 tăng, 1 phải 5 giảm); hỗ trợ thành lập hợp tác xã; hỗ trợ tổ chức nông dân/hợp tác xã sản xuất giống xác nhận; hỗ trợ đầu tư thiết bị và xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu cho hợp tác xã; giảm phát thải nhà kính, quản lý chất lượng, hỗ trợ xây dựng thương hiệu, thông tin thị trường và phát triển thị trường; hỗ trợ các doanh nghiệp chế biến gạo để nâng cấp công nghệ và cơ sở chế biến thông qua nguồn vốn tín dụng. 
 
vnsat 20191.jpg
Quang cảnh Hội thảo

Ban quản lý Dự án VnSAT tỉnh cũng đã thông tin tổng quan về dự án VnSAT của tỉnh Long An và tiến độ thực hiện dự án của tỉnh đến tháng 8 năm 2019. Vùng Dự án tỉnh Long An với diện tích 49.593 ha, 25.140 hộ tham gia, được triển khai ở 23 xã của 5 huyện (Tân Hưng 6 xã, Vĩnh Hưng 6 xã, Kiến Tường 3 xã, Mộc Hóa 3 xã, Tân Thạnh 5 xã). Mục tiêu là tăng thu nhập cho người nông dân, giảm tác động tiêu cực tới môi trường từ thâm canh lúa, tăng khả năng cạnh tranh của ngành hàng lúa gạo. Với các chỉ tiêu: Nâng cao năng lực cho 16 hợp tác xã, hỗ trợ đào tạo 3 giảm 3 tăng(đào tạo 13.000 hộ, 2.600 ha), hỗ tợ đào tạo 1 phải 5 giảm(6.500 hộ, 13.000ha).

Về hỗ trợ đào tạo tập huấn 3 giảm 3 tăng, 1 phải 5 giảm đã thực hiện tập huấn cho các thành viên của các hợp tác xã tham gia Dự án của tỉnh Long An để đạt các tiêu chí như: Lượng giống sử dụng trung bình 80 đến 100kg/ha; lượng phân N sử dụng 115 đến 130kg/ha; số lần phun thuốc trừ sâu trung bình 3-4 lần; và ghi chép nhật ký sản xuất đầy đủ. Về hỗ trợ trang thiết bị và cơ sở hạ tầng cho các tổ chức đại diện nông dân, đợt 1 sẽ hỗ trợ trang thiết bị và cơ sở hạ tầng tại 05 hợp tác xã, gồm: Đồng Đưng, Nông nghiệp Gò Gòn, Hưng Phú, sản xuất thương mại dịch vụ Hương Trang, sản xuất thương mại dịch vụ Nông nghiệp Bình Hòa. Đợt 2,3 dự kiến hỗ trợ trang thiết bị và cơ sở hạ tầng cho các hợp tác xã: Hưng Tân, Vĩnh Thuận, Cây Trôm, Thạnh Hưng, Hậu Thạnh Tây, Tân Đồng Tiến, Tân Long,…

Ngoài ra hội thảo còn được thông tin về liên kết chuỗi giá trị lúa gạo, tình hình xây dựng cánh đồng lớn của tỉnh và giới thiệu một số mẫu hợp đồng liên kết sản xuất gắn tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Đại diện ban quản lý các hợp tác xã đã thông tin về phương án sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã và báo cáo tóm tắt Tiểu dự án đầu tư trang thiết bị và cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xất của các hợp tác xã. 
Các thành viên hợp tác xã cũng được xem chiếu phim về hoạt động của dự án VnSAT tỉnh và thông tin về lợi ích khi tham gia hợp tác xã, lợi ích về kinh tế, xã hội,…các đại biểu tham dự cũng như các thành viên hợp tác xã đã thống nhất sẽ tham gia đầy đủ các lớp tập huấn 3 giảm 3 tăng, 1 phải 5 giảm, cũng như các đợt hội thảo, hội nghị, tổng kết mô hình, và sẽ thực hiện các nội dung đã được tập huấn hướng dẫn trong sản xuất lúa gạo như: lượng giống, lượng phân N, ghi đầy đủ các sổ nhật ký,…để cùng hợp tác xã đạt mục tiêu, chỉ tiêu của Dự án VnSAT.

Nguyễn Thu Sương
Chi cục Phát triển nông thôn và Thủy lợi

14/10/2019 9:00 SAĐã ban hành
Kết quả 10 năm thực hiện Phong trào thi đua  “Long An chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2010 - 2020Kết quả 10 năm thực hiện Phong trào thi đua  “Long An chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2010 - 2020

Sau 10 năm (2010-2020) thực hiện phong trào thi đua “Long An chung sức xây dựng nông thôn mới” đã tạo khí thế mới, khích lệ nông dân trên địa bàn tỉnh thi đua lao động sản xuất, góp phần đưa Long An nằm trong nhóm các tỉnh dẫn đầu cả nước về tỷ lệ số xã và số tiêu chí đạt chuẩn nông thôn mới (NTM).
 
10 nam thi dua ntm.jpg
Lễ phát động phong trào thi đua xây dựng xã NTM

Có lẽ, chưa bao giờ phong trào thi đua “Long An chung sức xây dựng NTM” được triển khai mạnh mẽ và phát huy hiệu quả như thời gian qua. Trên cơ sở bám sát nhiệm vụ chính trị được giao, các cấp, ngành đã phát động phong trào thi đua với nhiều chủ đề, hình thức phong phú như các phong trào: Xây dựng người công chức, viên chức “Trung thành, sáng tạo, tận tụy, gương mẫu”, “Thi đua cải cách thủ tục hành chính”,  “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh” gắn với tiếp tục “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân”, “xây dựng đơn vị y tế xanh, sạch, đẹp”, “Vì an ninh Tổ quốc” gắn với khẩu hiệu “Kỷ cương, trách nhiệm, trí tuệ, hiệu quả; Công an Long An – Tất cả vì sự bình yên của nhân dân”. “Cựu chiến binh nêu gương sáng, hiến kế, hiến công xây dựng quê hương đất nước”. Phong trào “Phụ nữ chung sức xây dựng NTM” gắn với cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”, "Nông dân tham gia bảo đảm quốc phòng an ninh", "Nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau giảm nghèo và làm giàu chính đáng", "Nông dân thi đua xây dựng NTM"... qua đó, tạo khí thế thi đua sôi nổi trong cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và được nông dân đồng tình hưởng ứng.
 
10 nam thi dua ntm1.jpg
Đường GTNT huyện Tân Trụ

Nhằm thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua xây dựng NTM, hàng năm, UBND tỉnh phát động phong trào thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; trong đó, tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành tăng cường triển khai, thực hiện phong trào thi đua xây dựng NTM và các phong trào thi đua chuyên đề. Theo đó, các sở, ban, ngành, đoàn thể tích cực phối hợp với các đơn vị liên quan và các địa phương xây dựng kế hoạch, cơ chế chính sách đặc thù của tỉnh; ban hành hướng dẫn xây dựng các đề án, dự án để thực hiện các nội dung của Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM. Cấp ủy và chính quyền cấp huyện, cấp xã ban hành nghị quyết chuyên đề về xây dựng NTM; xây dựng cơ chế hỗ trợ với những nội dung thiết thực, hiệu quả; vận động nhân dân tham gia đóng góp tiền, công sức, hiến đất… để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các tiêu chí NTM trên địa bàn…

Trong quá trình triển khai, tổ chức thực hiện phong trào thi đua đã có nhiều cách làm hay, sáng tạo và đạt kết quả cao ở các xã: Lạc Tấn, Mỹ Bình (Tân Trụ), Thanh Vĩnh Đông (Châu Thành), Thạnh Phước (Thạnh Hóa), Tân Lân, Tân Ân (Cần Đước)... được phổ biến, nhân rộng góp phần giúp cho cấp ủy Đảng và chính quyền các địa phương, các ngành chức năng kịp thời điều chỉnh những bất cập về cơ chế, chính sách, công tác tổ chức thực hiện, tạo môi trường thuận lợi đẩy nhanh tiến độ xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh.

Nhiều tập thể, cá nhân, hộ gia đình tham gia đóng góp tiền của và công sức cho xây dựng NTM. Điển hình nhân dân các xã: Ông Nguyễn Văn Thuộc xã Khánh Hưng (Vĩnh Hưng) hiến gần 25.000m2 đất; ông Huỳnh Kỳ Tâm xã Bình Hiệp (TX Kiến Tường) hiến hơn 1.500m2 đất và vận động nhân dân đóng góp hơn 8.500m2 đất; Ông Hồ Văn Tắc xã Đức Lập Hạ (Đức Hòa) tích cực vận động nhân dân mở 3 tuyến đường lộ mới dài 3.900km; Ông Nguyễn Công Sang, xã Lạc Tấn (Tân Trụ) đóng góp 300 triệu đồng làm đường giao thông nông thôn, 100 triệu đồng lắp trạm biến áp cho nhân dân sử dụng điện, 100 triệu đồng xây dựng hệ thống chiếu sáng đường GTNT, ngoài ra hàng năm còn tặng nhiều quà cho gia đình nghèo, khó khăn nhân dịp tết Nguyên đán; Ông Đỗ Đình Trí, xã Khánh Hưng, (Vĩnh Hưng) hiến 3.200m đất làm đường GTNT bờ Nam kênh 28, đóng góp 1.200 ngày công tham gia xây dựng nhà tình thương, vận động quyên góp 300 triệu đồng hỗ trợ xây dựng 80 căn nhà tình thương, quyên góp 3.000kg gạo để tặng cho hộ nghèo, cận nghèo, hộ khó khăn, tích cực vận động tuyên truyền nhân dân hưởng ứng, đồng thuận và tham gia đóng góp xây dựng NTM, giải quyết công việc cho 10-20 lao động/vụ; Công ty TNHH Một thành viên Lương thực Vĩnh Hưng đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng để xây dựng nhà kho, nhà máy xay xát chế biến lúa gạo tại xã Tuyên Bình Tây huyện Vĩnh Hưng và liên kết xây dựng cánh đồng lớn, tiêu thụ trên 25.000 tấn thóc/năm cho nông dân, tăng thu nhập cho nông dân trồng lúa; Bộ Tư lệnh Quân Khu 7 đã đóng góp cho xã Bình Hòa Nam (huyện Đức Huệ) trên 25 tỷ đồng, để xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn, xây dựng nhà văn hóa xã; làm đường giao thông; xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương. Cho xã Hưng Điền A (huyện Vĩnh Hưng) xây dựng Trường THCS đạt chuẩn, trị giá 2,3 tỷ đồng, …

Để động viên, khuyến khích các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua xây dựng NTM, UBND tỉnh đã ban hành cơ chế khen thưởng công trình, hạng mục công trình phúc lợi cho các địa phương hoàn thành 19 tiêu chí, về đích sớm, qua đó đã thu hút được nguồn lực lớn trong nhân dân, tạo động lực phong trào thi đua rộng khắp ở các địa phương trên địa bàn tỉnh. Theo đó, 10 năm qua, đã có 65 xã được thưởng 300 triệu đồng/xã; 16 xã được thưởng 500 triệu đồng/xã. Ngoài ra, Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen cho 508 tập thể, 492 cá nhân là nông dân, chủ doanh nghiệp, cán bộ, công chức, viên chức, trong đó 200 nông dân đóng góp tiền, hiến đất và ngày công lao động.
 
10 nam thi dua ntm2.jpg
Ông Nguyễn Thanh Truyền – GĐ Sở NN và PTNT trao Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho các tập thể và cá nhân tiêu biểu trong xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020

Có thể thấy, sau 10 năm thực hiện phong trào thi đua “Long An chung sức xây dựng NTM”, tỉnh ta huy động được cả hệ thống chính trị vào cuộc với quyết tâm cao, đến nay toàn tỉnh, đã có 77/166 xã đạt chuẩn NTM, bên cạnh đó huyện Châu Thành sẽ đạt huyện nông thôn mới và thành phố Tân An sẽ hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM trong năm 2019. Đây là tiền đề quan trọng để Long An phấn đấu trở thành tỉnh NTM vào những năm tới./.

Trần Thị Thêm
Chi cục PTNT và TL

30/09/2019 3:00 CHĐã ban hành
Xã Hòa Phú gấp rút hoàn thành tiêu chí nông thôn mới nâng caoXã Hòa Phú gấp rút hoàn thành tiêu chí nông thôn mới nâng cao

Hòa phú thuộc vùng thượng của huyện Châu Thành. Xã có 5 ấp, với diện tích tự nhiện là 917,51 ha. Xã có 1.684 hộ với 6.734 nhân khẩu, ngành nghề chủ yếu của bà con nhân dân là sản xuất nông nghiệp. Xã Hòa Phú được UBND tỉnh công nhận đạt chuẩn nông thôn mới năm 2013, theo kế hoạch xây dựng nông thôn mới năm 2019, UBND tỉnh chọn xã Hòa phú là một trong 2 xã nằm trong lộ trình phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao đầu tiên của tỉnh (Theo Quyết định số 241/QĐ-UBND ngày 17/01/2019 của UBND tỉnh về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NM năm 2019, 02 xã đạt xã NTM nâng cao năm 2019 gồm xã Hòa Phú, huyện Châu Thành và xã Phước Hậu, huyện Cần Giuộc)

Theo quy định tại Quyết định số 1617/QĐ-UBND ngày 17/5/2018 của UBND tỉnh Long An, xã đạt chuẩn NTM nâng cao của tỉnh là xã đạt chuẩn NTM theo Quyết định 1243/QĐ-UBND và đạt 5 tiêu chí nâng cao gồm:

- Tiêu chí hạ tầng kinh tế - xã hội: Gồm 3 chỉ tiêu: Đường xã nhựa hóa hoặc bê tông hóa 100%; đường trục ấp bê tông hóa từ 70% trở lên; 100% trường học các cấp đạt chuẩn quốc gia (MN, TH, THCS).

- Tiêu chí phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống nhân dân:Gồm 4 chỉ tiêu:HTX hoạt động hiệu quả và kinh doanh có lãi liên tục trog 2 năm tài chính; có thực hiện liên kết sản xuất theo chuổi giá trị đối với sản phẩm chủ lực của xã; có ít nhất 01 mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ cao hiệu quả; thu nhập bình quân đầu người gấp 1,3 lần so với xã NTM.

- Tiêu chí  giáo dục – y tế - văn hóa: Gồm 7 chỉ tiêu: Phổ cập giáo dục trung học cơ sở đạt mức độ 3; phổ cập giáo dục tiểu học đạt mức độ 3; tỷ lệ lao động có việc làm qua đào tạo đạt từ 65% trở lên; tỷ lệ lao động nông thôn được phổ biến, tuyên truyền kiến thức khoa học, công nghệ, rủi ro thiên tai…đạt từ 95% trở lên; tỷ lệ người dân tham gia BHYT đạt từ 90% trở lên; Trung tâm văn hóa xã hoạt động hiệu quả; xã đạt xã văn hóa.

- Tiêu chí cảnh quan môi trường: Gồm 5 chỉ tiêu: Tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch đạt từ 80% trở lên; khu xử lý rác tập trung trên địa bàn xã (nếu có) phải được trồng nhiều lớp hàng rào cây xanh bao bọc xung quanh; Tỷ lệ nhà hộ dân có cổng, hàng rào đạt từ 70% trở lên; Tỷ lệ rác thải sinh hoạt trên địa bàn xã được thu gom và xử lý theo đúng quy định đạt từ 70% trở lên; Có hệ thống điện chiếu sáng trên các đường trục xã (đường xã).

- Tiêu  chí an ninh trật tự - hành chính công: Gồm 5 chỉ tiêu: Phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc được xếp loại vững mạnh tiêu biểu; Có hệ thống camera giám sát an ninh trật tự tại những điểm nóng và trên các đường xã; Tỷ lệ ấp được công nhận đạt tiêu chuẩn “An toàn về an ninh trật tự” đạt 100%; Tỷ lệ số hồ sơ thủ tục hành chính của xã (chỉ tính đối với những hồ sơ thủ tục hành chính quy định tiếp nhận tại Bộ phận một cửa của xã) được tiếp nhận, giải quyết đúng hạn và được công bố kịp thời trên Cổng dịch vụ công trực tuyến của tỉnh đạt từ 95% trở lên. 

Đến nay xã Hòa Phú cơ bản đạt 4/5 tiêu chí xã NTM nâng cao, gồm: Hạ tầng kinh tế - xã hội; giáo dục – y tế - văn hóa; cảnh quan môi trường; an ninh trật tự - hành chính công cụ thể là:
 
hoa phu nang cao.jpg
Ban chỉ đạo xây dựng NTM huyện Châu Thành và xã Hòa Phú tổ chức hội nghị đánh giá kết quả thực hiện tiêu chí NTM nâng cao của xã Hòa Phú và đề ra giải pháp thực hiện các chỉ tiêu chưa đạt

Xã có 100% đường xã, đường trục ấp được nhựa hóa, bê tông hóa. Công tác phổ cập giáo dục hàng năm được thực hiện tốt, Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở tiếp tục học trung học phổ thông, bổ túc, học nghề chiếm tỷ lệ 96,2%. Phổ cập giao dục trung học cơ sở và tiểu học đều đạt cấp độ 3 tỷ lệ lao động có việc làm  qua đào tạo đạt 65,9%. Xã có 02 trường học (Trường mẫu giáo Hồ Văn Ngà và trường tiểu học Đặng Thành Công) đều đạt chuẩn quốc gia. Tỷ lệ lao động có việc làm qua đào tạo đạt 65,9%, số lao động nông thôn thường xuyên ở xã được tuyên truyền phổ biến kiến thức khao học, công nghệ có ngành nghề làm ăn phù hợp đạt 100%. Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế hàng năm của xã đạt trên 95%. Trung tâm văn hóa xã được đầu tư xây dựng cùng các trang thiết bị đảm bảo hoạt động hiệu quả. Xã được tái công nhận xã văn hóa ngày 13/3/2019 theo Quyết định số 847/QĐ-UBND của UBND tỉnh Long An.

Xã đã nâng cấp và xây dựng mới 18 hệ thống lắng lọc ở các ấp do đó tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch của xã đạt 90%; tỷ lệ hộ dân có nhà vệ sinh đạt chuẩn đạt 91%, tỷ lệ hộ chăn nuôi có xây dựng chuồng trại và hầm bioga để bảo quản chất thải, tỷ lệ hộ sản xuất kinh doanh thực phẩm tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn thực phẩm đạt 100%. Xã vận động nhân dân trồng và bảo quản gần 8000 cây xanh , gắn 370 bóng đền chiếu sáng và 100 bồn hoa dọc các tuyến đường giao thông đã làm cho cảnh quan môi trường của xã xanh, sạch, đẹp hơn.
 
hoa phu nang cao1.jpg
Công trình lắng lọc và xử lý nước tại ấp 4

Xã đã huy động mọi nguồn lực để thực hiện công tác giữ gìn an ninh trật tự trên địa bàn xã, vận động nhân dân đóng góp kinh phí gắn 42 camera an ninh. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong nhân dân do đó tình hình an ninh trật tự trên đại bàn xã được bảo đảm. phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ của xã hàng năm đều đạt “xuất sắc” và được Bộ Công an tặng cờ, bằng khen. 100% hồ sơ thủ tục hành chính của xã được tiếp nhận và giải quyết đúng thời hạn.

Mặc dù, xã đã thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp và đã xây dựng kế hoạch thực hiện sản xuất 100ha thanh long ứng dụng công nghệ cao, đã thành lập được 05 tổ kinh tế hợp tác với 120ha và xây dựng 05 nhóm sản xuất ViệtGap trong tổ kinh tế hợp tác. Thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn xã hiện đạt 62,66 triệu đồng/người/năm. Tuy nhiên, hiện nay xã chưa xác định được hợp tác xã hoạt động có hiệu quả và kinh doanh có lãi liên tục trong 02 năm tài chính; chưa xác định được xã có thực hiện liên kết sản xuất theo chuỗi hàng hóa đối với sản phẩm chủ lực do đó xã chưa đạt tiêu chí Phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống nhân dân.
 
hoa phu nang cao2.jpg
Ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất thanh long mang lại lợi nhuận cao cho người dânxã Hòa Phú

 Nhằm đề ra các giải pháp để xã Hòa Phú đạt chuẩn NTM nâng cao vào cuối năm 2019 đúng theo lộ trình, ngày 22/8/2019 Ban Chỉ đạo xây dựng NTM huyện Châu Thành đã tiến hành làm việc với lãnh đạo và BCĐ xây dựng nông thôn mới xã Hòa phú. Kết luận buổi là việc, ông Nguyễn Văn Thình – Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo xây dựng NTM huyện cho biết: “Hòa Phú là một trong hai xã được UBND tỉnh chọn làm xã điểm xây dựng NTM nâng cao năm 2019 (xã Hòa Phú Châu Thành và Phước Hậu Cần Giuộc), do đó xã NTM nâng cao phải thật sự khác với xã NTM thông thường ngay từ cảnh quan môi trường, đến kết cấu hạ tầng và đời sống nhân dân…”. Ông Thình đề nghị các thành viên Ban Chỉ đạo huyện tiếp tục hỗ trợ xã nâng chất các tiêu chí NTM đã đạt; hỗ trợ củng cố nhân sự, hoạt động của HTX. Lập hồ sơ đề nghị Chi cục thuế huyện công nhận HTX hoạt động có lãi trong 02 năm gần nhất. Chính quyền và các tổ chức, đoàn thể xã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân xây dựng cảnh quan môi trường, dọn dẹp vệ sinh đường làng, ngõ xóm,…./.

Anh Nhung
Chi cục PTNT và Thủy lợi

30/09/2019 10:00 SAĐã ban hành
Long An: Vai trò của Phụ nữ trong xây dựng nôn thôn mớiLong An: Vai trò của Phụ nữ trong xây dựng nôn thôn mới

Qua 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) xây dựng nông thôn mới (NTM), toàn tỉnh Long An đã có 77 xã được công nhận đạt chuẩn NTM, nông thôn Long An đã có bước phát triển toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng. Những kết quả đạt được trong xây dựng NTM có sự góp sức không nhỏ của Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp trong việc thực hiện Cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”. 

Cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch” là cuộc vận động lớn do Hội Liên hiệp Phụ nữ phát động và đã đồng hành cùng với Chương trình xây dựng NTM từ năm 2010. Với tiêu chí cụ thể là “5 không” (không đói nghèo, không vi phạm pháp luật và mắc tệ nạn xã hội, không có bạo lực gia đình, không sinh con thứ 3 trở lên, không có trẻ suy dinh dưỡng và bỏ học) và “3 sạch” (sạch nhà - sạch bếp - sạch ngõ) đã khảng định đây là Cuộc vận động có ý nghĩa thiết thực để xây dựng gia đình hạnh phúc và văn minh, góp phần quan trọng vào kết quả thực hiện Chương trình xây dựng NTM. Theo bà Nguyễn Thị Hồng Phúc - Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Long An: Việc thực hiện các tiêu chí của Cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch” đã có tác động tích cực đến thực hiện 11 tiêu chí xã NTM, đó là: Giao thông, nhà ở dân cư, thu nhập, hộ nghèo, lao động có việc làm, giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa, môi trường và an toàn thực phẩm, hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật, quốc phòng và an ninh. Do đó, Hội Phụ nữ các cấp có vai trò rất quan trọng trong xây dựng NTM.

 vai tro hoi pn ntm.jpg
Bà Nguyễn Thị Hồng Phúc – CT. Hội LHPN tỉnh phát biểu tham luận tại Hội nghị 
tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM của tỉnh Long An

Về “Không đói nghèo”: Hội Phụ nữ các cấp thường xuyên đã rà soát và xác định nguyên nhân nghèo của các hộ, đặc biệt là hộ nghèo do phụ nữ làm chủ, để có giải pháp hỗ trợ, giúp đỡ thoát nghèo phù hợp với từng hộ. Bằng những hoạt động hỗ trợ thiết thực và hiệu quả, nên qua 10 năm, các cấp Hội đã hỗ trợ, giúp đỡ 5.682 hộ nghèo do phụ nữ làm chủ thoát nghèo, cụ thể như: Đã phối hợp dạy nghề cho 27.142 lao động nữ (có việc làm sau đào tạo là 21.244 lao động nữ), giới thiệu việc làm cho 170.694 lao động nữ, hỗ trợ 821 “Mái ấm tình thương”, trao tặng 1.290 suất học bổng cho học sinh nghèo, 90 chiếc xe lăn, 60 chiếc xe đạp và vận động giúp cho phụ nữ nghèo, khó khăn với tổng số tiền trên 50 tỷ đồng. Đặc biệt, đã giúp 53.564 hộ được vay vốn từ nguồn vốn ủy thác của Ngân hàng Chính sách xã hội (gần 1.400 tỷ đồng) và vốn góp xoay vòng (81 tỷ đồng).
 
vai tro hoi pn ntm1.jpg
Hỗ trợ “Mái ấm tình thương” – một hoạt động thiết thực và hiệu quả
đã được triển khai khai ở các cấp Hội phụ nữ

Về “Không vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội”: Hội phụ nữ đã chủ động liên tịch với Công an thực hiện quản lý, giáo dục người thân trong gia đình không phạm tội và không vi phạm tệ nạn xã hội bằng nhiều mô hình cụ thể, như: “Tổ phụ nữ chủ nhà trọ có camera giám sát”, “Trẻ em không vi phạm pháp luật, tệ nạn xã hội”, “Tổ phụ nữ phòng, chống tệ nạn xã hội”, “Liên gia tự phòng, tự quản, vừa là hội viên vừa là an ninh viên”, “Tổ phụ nữ không có người tham gia đánh bài”, “Tổ phụ nữ không có con em vi phạm pháp luật”…
 
Về “Không có bạo lực gia đình ”: Các cấp Hội đã tổ chức nhiều hoạt động thể hiện tính giáo dục, như: Tổ chức Hội thi, các buổi nói chuyện chuyên đề về kiến thức mẹ, sức khỏe con, bữa cơm gia đình ấm áp yêu thương…; xây dựng, duy trì các mô hình, câu lạc bộ, như: “Nuôi con khỏe, dạy con ngoan”, “Người cha tốt của con” ,“Gia đình hạnh phúc”, “Phòng, chống bạo lực gia đình”,…đã thu hút 10.096 thành viên tham gia; thành lập 405 mô hình địa chỉ tin cậy tại cộng đồng, để tư vấn, hòa giải, hỗ trợ, giúp đỡ các trường hợp bạo lực gia đình, góp phần giữ gìn trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
 
vai tro hoi pn ntm2.jpg
Lễ ra mắt “Tổ phụ nữ an toàn – không bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái” tại 
Chi hội ấp Bình Trung 1, xã Nhơn Thạnh Trung – Thành phố Tân An

Về “Không vi phạm chính sách dân số”: Các cấp Hội đã thành lập 2.859 tổ phụ nữ “Không có người sinh con thứ 3 trở lên” với 32.995 thành viên và 294 câu lạc bộ “Không sinh con thứ 3 trở lên” với 8.600 thành viên; hướng dẫn cho hơn 11.987 bà mẹ, ông bố và gần 4.000 trẻ vị thành niên được tiếp cận các kiến thức và kỹ năng trong tổ chức cuộc sống gia đình; phát hành 25.000 tờ bướm, 1.500 bản tin, 7.021 tin bài tuyên truyền chăm sóc và nuôi dạy con, phòng ngừa tai nạn giao thông…Song song đó, các cấp Hội còn phối hợp với ngành y tế tập huấn về kiến thức giới và tình trạng mất cân bằng giới tính; chăm sóc sức khỏe sinh sản và các biện pháp tránh thai; dinh dưỡng cho mẹ và bé; chăm sóc sức khỏe người cao tuổi…góp phần nâng cao chất lượng dân số.

Về “Không có trẻ suy dinh dưỡng và bỏ học”: Các mô hình, như: “Bữa ăn dinh dưỡng cho bé”, “Vườn rau dinh dưỡng”, “Nhóm phụ nữ nuôi dạy con tốt”, “Mẹ và em bé”, “Tổ phụ nữ nuôi con tuổi vị thành niên”… đã được các cấp Hội đẩy mạnh thực hiện, nhằm trao đổi kinh nghiệm giữa các gia đình với nhau và cung cấp những thông tin cần thiết về chế độ dinh dưỡng cho trẻ, chia sẻ kinh nghiệm về nuôi dạy con học tốt, không để xảy ra tình trạng trẻ bị béo phì hoặc suy dinh dưỡng. Bên cạnh đó, Hội Phụ nữ các cấp còn vận động phụ nữ hưởng ứng Cuộc vận động Toàn dân đưa trẻ đến trường, quan tâm phối hợp với nhà trường theo dõi kết quả học tập của trẻ, kịp thời động viên tìm hiểu nguyên nhân giúp trẻ có kiến thức, không bỏ học.
 
vai tro hoi pn ntm3.jpg
Vườn rau thủy canh - mô hình sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu do 
Hội Liên hiệp phụ nữ xã Thanh Phú, huyện Bến Lức phát động

Về “Sạch nhà, sạch bếp, sạch ngõ”: Hội phụ nữ các cấp tuyên tuyền, vận động hội viên, phụ nữ xây dựng thói quen sắp xếp nhà cửa sạch sẽ, gọn gàng; sử dụng, chế biến thức ăn đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; đỗ rác đúng nơi quy định; vệ sinh chuồng trại chăn nuôi; xây dựng và sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh…, góp phần bảo vệ môi trường sống của gia đình và cộng đồng. Ngoài ra, các cấp Hội đã vận động hội viên, phụ nữ đóng góp sức người, sức của để nâng cấp các tuyến đường giao thông với các mô hình “Đoạn đường phụ nữ tự quản”, “Thắp sáng đường giao thông nông thôn”; thực hiện các mô hình thu gom, xử lý rác thải như: Mô hình “Biến rác thành tiền”, “Tổ phụ nữ phân loại rác tại nguồn’, “Xóa bãi rác thành vườn hoa", “Tổ phụ nữ thu gom vỏ bao bì thuốc bảo vệ thực vật”, “Bếp ít khói”, “Tổ phụ nữ góp vốn xây nhà vệ sinh tự hoại”..., với tổng trị giá trên 25 tỉ đồng. Đặc biệt, trong năm 2019 các cấp Hội Phụ nữ tập trung xây dựng mỗi xã có ít nhất có 01 tuyến đường “xanh - sạch - đẹp”.

 vai tro hoi pn ntm4.jpg
Hội Phụ nữ xã Đông Thạnh, huyện Cần Giuộc tham gia xây dựng tuyến 
đường ấp Tân Quang B  “Xanh – sạch – đẹp”

Một trong những mục tiêu quan trọng của xây dựng NTM trong thời gian tới là phải nâng đời sống vật chất và tinh thần của người dân khu vực nông thôn tiệm cận với khu vực đô thị, tức là mức độ đạt chuẩn của các tiêu chí xã NTM sẽ được nâng lên, do đó để tiếp tục hỗ trợ, đồng hành với xây dựng NTM, Hội Phụ nữ các cấp cần tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động, xây dựng các mô hình thiết thực, gắn với nhu cầu thực tế của người dân, có như vậy mới thu hút đông đảo sự tham gia của người dân vào Cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không 3 sạch”./.

  Nguyễn Sỹ Xương
Văn phòng Điều phối NTM tỉnh

30/09/2019 9:00 SAĐã ban hành
Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (CNC) gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Long An - Kết quả sau 3 năm thực hiệnChương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (CNC) gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Long An - Kết quả sau 3 năm thực hiện

Thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TU về phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC cao gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, Sở Nông nghiệp và PTNT đã phối hợp với các ngành, địa phương tập trung công tác tuyên truyền, đẩy mạnh việc triển khai thực hiện. Sau 03 năm triển khai thực hiện đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC trên cây lúa, rau, thanh long và con bò thịt được hình thành góp phần nâng cao thu nhập cho người nông dân.

Kết quả đạt được sau 03 năm triển khai thực hiện Chương trình

Qua 03 năm triển khai thực hiện Chương trình, công tác tuyên truyền góp phần chuyển biến tích cực trong nhận thức của cán bộ, công chức, người lao động và nhân dân; nhiều mô hình cho hiệu quả cao đã tạo sức lan tỏa và ủng hộ của người dân, nhiều hộ dân sau khi tham gia học tập đã tự đầu tư xây dựng nhà lưới, hệ thống tưới nước tiết kiệm, ứng dụng cơ giới hóa đồng bộ, sử dụng phân hữu cơ thay thế dần cho phân hóa học. 

Đến nay, tỉnh Long An đã xây dựng 4 vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC, trong đó vùng lúa có 15.075 ha, vùng trồng rau chuyên canh 1.476 ha, vùng trồng thanh long 2.077 ha và vùng chăn nuôi bò thịt với hơn 4.000 con. Để thực hiện chương trình đạt hiệu quả, ngành nông nghiệp tỉnh đã phối hợp với UBND các huyện trong vùng ứng dụng CNC tổ chức lại sản xuất và xây dựng các Hợp tác xã (HTX) điểm. Đến nay, trong vùng sản xuất ứng dụng CNC đã thành lập và cũng cố được 43 HTX nông nghiệp và 151 tổ hợp tác (THT). Trong đó, UBND tỉnh đã phê duyệt 16 HTX điểm, bao gồm 4 HTX điểm điển hình ứng dụng CNC trong sản xuất nông nghiệp.
 
cnc 3 nam.jpg
Ứng dụng máy cấy tại HTX Thạnh Hưng-TX Kiến Tường

Trên cây lúa đã thành lập và cũng cố 21 HTX, 33 THT trong vùng Đề án. Đã có 15.075 ha ứng dụng CNC trong sản xuất, trong đó có 100% diện tích sử dụng giống chất lượng cao, đạt chuẩn cấp xác nhận với lượng giống 80 - 100 kg/ha; ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất, 10% diện tích sử dụng máy cấy, 100% diện tích thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp, cuộn rơm,... Kết quả từ các mô hình điểm cho thấy chi phí sản xuất giảm so với ngoài mô hình từ 0,8 – 1,5 triệu đồng/ha, lợi nhuận trong mô hình cao hơn ngoài mô hình từ 2 - 4 triệu đồng/ha. Đặc biệt, đối với mô hình lúa cấy gắn với tiêu thụ lúa giống cá biệt có hộ lợi nhuận cao hơn so với ngoài mô hình từ 6 - 8 triệu đồng/ha. Đối với mô hình sản xuất lúa hữu cơ, nông dân sử dụng phân hữu cơ, không sử dụng phân, thuốc hóa học, năng suất đạt từ 3,5-3,9 tấn/ha, lợi nhuận đạt 17 triệu đồng/ha và được công ty bao tiêu sản phẩm. Đồng thời qua các mô hình điểm, nhiều nông dân tự áp dụng một phần nội dung triển khai mô hình (như áp dụng máy cấy trong sản xuất, ứng dụng bón lót hữu cơ, chế phẩm sinh học,...) với diện tích trên 3.200 ha. 
 
cnc 3 nam1.jpg
Trồng Rau ứng dụng CNC tại HTX RAT Mười Hai

Trên cây rau, đã thành lập và cũng cố 12 HTX và 32 THT trong vùng Đề án. Đã có 1.476 ha ứng dụng CNC trong sản xuất rau. Việc sử dụng phân hữu cơ sinh học, trồng rau trong nhà lưới, nhà màng giúp cây rau phát triển tốt hơn, sâu bệnh ít hơn, giảm số lần sử dụng thuốc BVTV từ đó làm giảm công lao động, tăng suất từ 5 - 20%, lợi nhuận cao hơn từ 2 - 5 triệu đồng/1.000 m2 so với trồng theo phương pháp truyền thống. Hiện nay, tỉnh đã xây dựng được 06 chuỗi rau an toàn (HTX RAT Phước Hòa, Phước Hiệp, Tân Hiệp, Phước Thịnh, Thuận Giàu, RAT Mười Hai) để cung ứng cho thị trường TP HCM. Ngoài ra, mô hình vườn ươm cây con giống, hệ thống sản xuất thủy canh phục vụ nhu cầu trồng rau cho người dân bước đầu cũng mang lại lợi nhuận khá. Việc triển khai mô hình CNC trong sản xuất rau được người dân đồng tình ủng hộ, dân tự nhân rộng trên 500 ha (huyện Cần Đước, Cần Giuộc).

cnc 3 nam2.jpg 
Trồng thanh Long ứng dụng CNC tại HTX Dương Xuân

Trên cây thanh long, thành lập và cũng cố 9 HTX và 70 THT trong vùng Đề án. Hiện có 2.077 ha ứng dụng CNC trong sản xuất. Nông dân trong vùng chuyển sang sản xuất theo VietGAP, sử dụng phân hữu cơ vi sinh, phân sinh học, sử dụng bẫy côn trùng, máy băm dây thanh long, tưới nước tiết kiệm,... Kết quả mô hình cho thấy, nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hợp lý hơn, làm quen với việc ghi chép nhật ký sản xuất. Đối với mô hình tưới tiết kiệm đã giúp nông dân tiết kiệm được 80% công lao động, tiết kiệm điện năng, tiết kiệm lượng nước sử dụng, tăng hiệu quả hấp thụ phân bón, từ đó làm cho lợi nhuận tăng bình quân so với ngoài mô hình.

Trên con bò thịt, đã xây dựng được 02 HTX và 15 THT trong vùng Đề án. Hỗ trợ 181 con bò cái sinh sản, hỗ trợ cơ giới hóa 105 máy (máy băm cỏ, cắt cỏ và máy trộn thức ăn); hỗ trợ 3.065 liều tinh bò thịt chất lượng cao. Nhiều hộ nông dân đã có chuyển biến tích cực trong nhận thức, quan tâm đến dinh dưỡng, sử dụng giống cỏ tốt, có năng suất cao trong chăn nuôi và chỉnh trang chuồng trại. Trong năm 2019 hỗ trợ chứng nhận 02 HTX điểm, 01 THT và 02 trang trại chăn nuôi đạt chứng nhận thực hành chăn nuôi tốt VietGAHP. 

Bên cạnh đó, ngành đã hỗ trợ HTX, doanh nghiệp xây dựng 12 chuỗi cung cấp thực phẩm an toàn trên rau, thịt gà, thịt heo; nhân rộng, phát triển 02 mô hình rau an toàn đã xây dựng năm 2016, đang thực hiện 2 chuỗi cung cấp thịt bò, chuỗi cung cấp gạo, 3 chuỗi trên các sản phẩm rau củ quả. Đã xây dựng được 14 điểm bán thực phẩm an toàn tại các huyện và Thành phố Tân An. Hỗ trợ 03 doanh nghiệp đạt chứng nhận Doanh nghiệp ứng dụng CNC (Công ty TNHH Chăn nuôi Phú Gia Long An, Công ty TNHH Huy Long An - Mỹ Bình và Công ty TNHH Trung Sơn Long An). Ngoài ra, ngành đã tập trung công tác xúc tiến thương mại: Tổ chức cho các HTX sản xuất chứng nhận VietGAP tham gia chợ phiên nông sản an toàn tại TPHCM, Hội nghị giao thương Việt Nam-Trung Quốc, Hội nghị kết nối cung cầu, hội chỡ triển lãm, festival,…

Ngoài 03 cây - 01 con triển khai thực hiện theo Nghị quyết số 08-NQ/TU, ngành Nông nghiệp đã chỉ đạo ứng dụng CNC trong nuôi tôm nước lợ như: Sử dụng bạt lót, siphon đáy, nuôi tôm 02 giai đoạn, qua đánh giá mô hình đã mang lại hiệu quả kinh tế cao.
 
cnc 3 nam3.jpg
Nuôi tôm ứng dụng CNC ở xã Phước Vĩnh Đông-huyện Cần Giuộc

Bên cạnh những kết quả đạt được, Chương trình gặp một số khó khăn:

Việc thu hút đầu tư của các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn do thiếu quỹ đất sạch, số doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao còn ít; Một số mô hình trình diễn sản xuất ứng dụng CNC bước đầu thực hiện có hiệu quả nhưng khi nhân rộng lại gặp khó khăn về vốn; Việc liên kết sản xuất, bao tiêu sản phẩm một số mô hình còn hạn chế; Các HTX nông nghiệp nói chung và HTX nông nghiệp ứng dụng CNC nói riêng còn khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác. 

Các giải pháp cần tập trung để thực hiện Chương trình trong thời gian tới:

Một là, tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền bằng nhiều hình thức, tăng cường thông tin, giới thiệu những mô hình sản xuất có hiệu quả, thông tin về vai trò, vị trí, tổ chức HTX và phát huy nội lực HTX. Các thành viên Ban chỉ đạo tỉnh tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của từng địa bàn được phân công tháo gở khó khăn kịp thời.

Hai là, triển khai thực hiện các nội dung quy hoạch nông lâm ngư đã được UBND tỉnh phê duyệt tại quyết định số 4711/QĐ-UBND ngày 14/12/2018.

Ba là, đẩy mạnh việc xây dựng HTX điểm ứng dụng CNC để đạt các tiêu chí. Phấn đấu cuối năm 2019 hoàn thành việc xây dựng 4 HTX điểm điển hình để làm lan tỏa Chương trình.

Bốn là, tiếp tục xây dựng mô hình điểm trong ứng dụng CNC, duy trì nhân rộng mô hình nầy trong sản xuất theo lộ trình, cuối năm 2019 cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu. Triển khai có hiệu quả mô hình phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất, có nhiều sản phẩm sạch đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm.

Năm là, tiếp tục hỗ trợ THT, HTX, doanh nghiệp tháo gở những khó khăn vướng mắc trong quá trình sản xuất kinh doanh: Thường xuyên gặp gỡ, đối thoại giữa các bên chuỗi liên kết, tiêu thụ nhằm kịp thời tháo gở những khó khăn vướn mắc cho các bên liên quan chuỗi giá trị. Hỗ trợ các HTX điểm tham gia chương trình mỗi làng một sản phẩm. Hỗ trợ THT, HTX sản xuất đạt chứng nhận GAP tham gia chuỗi cung ứng thực phẩm và tham gia phiên chợ nông sản an toàn TP HCM.

Sáu là, đầu tư kết cấu hạ tầng trong vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC nhằm đảm bảo vận chuyển máy móc, hàng háo được thuận lợi; hỗ trợ vay vốn mua phương tiện máy móc, vật tư ứng dụng CNC thông qua nhu cầu của HTX.

Bảy là, tăng cường xúc tiến thương mại cho các măt hàng nông sản chủ lực của tỉnh; theo dỏi các hợp đồng, nội dung ghi nhớ đã được ký kết giữa HTX tỉnh Long An với TP HCM. Hỗ trợ phát triển các điểm bán thực phẩm sạch, an toàn.

Tám là, triển khai có hiệu quả cơ chế chính sách hỗ trợ thực hiện Đề án và các cơ chế chính sách khác nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC. Khuyến khích hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản với nông dân, diu trì mối liên hệ giữa doanh nghiệp, HTX và nông dân trong trong liên kết và tiêu thụ nông sản.

Phạm Hoàng Long
Phó Chánh văn phòng điều phối nông thôn mới tỉnh

27/09/2019 4:00 CHĐã ban hành
Tổng kết mô hình tại hợp tác xã điểm Dương Xuân, ứng dụng máy bay không người lái vào quản lý dịch hại trên cây thanh longTổng kết mô hình tại hợp tác xã điểm Dương Xuân, ứng dụng máy bay không người lái vào quản lý dịch hại trên cây thanh long

Ngày 23/9/2019 tại Hội trường Trung tâm văn hóa thể thao và học tập cộng đồng xã Dương Xuân Hội, huyện Châu Thành diễn ra buổi Hội thảo tổng kết các mô hình tại hợp tác xã điểm Dương Xuân và Hội thảo ứng dụng máy bay không người lái vào quản lý dịch hại trên cây thanh long.

may bay ko ng lai.jpg
Quang cảnh Hội thảo tổng kết các mô hình sản xuất thanh long ứng dụng công nghệ cao tại Hợp tác xã Dương Xuân

Tham dự buổi làm việc có ông Trịnh Hoàng Việt – Giám đốc Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp tỉnh Long An; ông Lê Hồng Sơn – Phó Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn và Thủy lợi tỉnh Long An; đại diện phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp các huyện: Châu Thành, Thủ Thừa, Tân Trụ, thành phố Tân An; lãnh đạo UBND xã Dương Xuân Hội; Hội Nông dân, Hội phụ nữ và Khuyến nông viên xã Dương Xuân Hội; Hợp tác xã Dương Xuân; Công ty TNHH Nông nghiệp Xanh và Xanh và nông dân huyện Châu Thành cùng tham dự.

Tại buổi làm việc, chủ trì Hội thảo ông Trịnh Hoàng Việt – Giám đốc Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp tỉnh Long An – Tổ trưởng Tổ Đề án thanh long công nghệ cao phát biểu khai mạc Hội thảo. Các đại biểu đã nghe ông Nguyễn Quang Thuần – Phó Giám đốc Trung tâm dịch vụ nông nghiệp huyện Châu Thành – thành viên Tổ Đề án thanh long công nghệ cao báo cáo thực hiện các mô hình (mô hình sản xuất theo VietGAP, tưới tiên tiến và ứng dụng đèn Compact phổ ánh sáng đỏ xử lý thanh long ra hoa nghịch vụ).

Tại Hội thảo, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Châu Thành báo cáo kết quả về hoạt động xây dựng và củng cố hợp tác xã điểm, Hợp tác xã Dương Xuân báo cáo về kết quả hoạt động của hợp tác xã trong 09 tháng đầu năm và kế hoạch thực hiện trong thời gian tới.

may bay ko ng lai1.jpg
Ông Phậm Xuân Phong-Tổng Giám đốc Công ty TNHH Nông nghiệp Xanh và Xanh  giới thiệu ứng dụng máy bay không người lái để quản lý dịch hại cây trồng

Sau đó, Công ty TNHH Nông nghiệp Xanh và Xanh trình bày tham luận về việc ứng dụng máy bay không người lái để quản lý dịch hại cây trồng trình diễn phun thuốc thanh long bằng máy bay không người lái cho bà con nông dân xem, đồng thời tiến hành thảo luận với bà con về việc ứng dụng máy bay không người lái.

may bay ko ng lai2.jpg
Quang cảnh trình diễn phun thuốc thanh long bằng máy bay không người lái

Sau khi nghe các ý kiến đóng góp, chia sẻ, thảo luận của Công ty TNHH Nông nghiệp Xanh và Xanh với bà con, ông Trịnh Hoàng Việt - Giám đốc Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp tỉnh Long An cho rằng: Việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất như phân hữu cơ, chế phẩm sinh học, máy băm cành cây thanh long, hệ thống tưới, đèn compact… đã góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất. Sản xuất thanh long sạch theo hướng VietGAP là một chủ trương đúng đắn và rất cần thiết trong điều kiện hiện nay và hướng tới. Tuy nhiên do hiện tại đầu ra chưa ổn định nên việc thay đổi nhận thức và tập quán sản xuất của người nông dân còn khó khăn, đòi hỏi phải có tính kiên trì./.

Huỳnh Như Phương
Chi cục Phát triển nông thôn và Thủy lợi








26/09/2019 4:00 CHĐã ban hành
Huyện Tân Thạnh-Bức tranh nông thôn mới sau 10 năm xây dựngHuyện Tân Thạnh-Bức tranh nông thôn mới sau 10 năm xây dựng


Sau 10 năm triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia (MTQG) xây dựng nông thôn mới (XDNTM), trên địa bàn huyện Tân Thạnh đã đạt được những kết quả tích cực; bộ mặt nông thôn khang trang, xanh, sạch, đẹp hơn; kết cấu hạ tầng thiết yếu về giao thông, thủy lợi, văn hóa, y tế, giáo dục… được quan tâm đầu tư, nâng cấp, xây dựng; sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển, nhiều mô hình sản xuất liên kết, ứng dụng công nghệ cao góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, đời sống vật chất và tinh thần của người dân từng bước được cải thiện. 
 
tan thanh 10 nam dm.jpg
Chủ tịch UBND huyện Tân Thạnh- Trần Văn Trước nhận cờ thi đua của UBND tỉnh về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020

Nhận thức được tầm quan trọng của Chương trình MTQG XDNTM, UBND huyện Tân Thạnh đã thành lập Ban chỉ đạo huyện để điều hành Chương trình từ huyện đến xã đảm bảo theo quy định và hoạt động ngày càng đi vào chiều sâu mang lại những hiệu quả khả quan. Bên cạnh đó, UBND huyện cũng ban hành nhiều kế hoạch về xây dựng xã đạt tiêu chí nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 để triển khai đến các ngành, các xã trên địa bàn thực hiện. Công tác phổ biến, tuyên truyền, vận động được đẩy mạnh cùng với việc phát động Phong trào “Tân Thạnh chung sức xây dựng nông thôn mới” đã làm chuyển biến tích cực về nhận thức của đội ngũ cán bộ và nhân dân trên địa bàn huyện.
 
tan thanh 10 nam dm1.jpg
Nhà Văn hóa-Khu thể thao ấp Nguyễn Khỏe, xã Hậu Thạnh Tây được xây dựng phục vụ sinh hoạt của nhân dân trong ấp

Là một huyện trong các địa phương có xuất phát điểm thấp (chỉ đạt bình quân 5,25 tiêu chí/ xã năm 2011), nhưng thời gian qua, Huyện ủy, HĐND, UBND huyện đã có nhiều cố gắng, nỗ lực tập trung chỉ đạo trong thực hiện Chương trình MTQG XDNTM và đạt được những thành tích đáng khích lệ. Qua 10 năm xây dựng nông thôn mới, đến nay trên địa bàn huyện đã được UBND tỉnh quyết định công nhận 4/12 xã đạt chuẩn nông thôn mới (Hậu Thạnh Đông, Nhơn Ninh, Tân Ninh và Hậu Thạnh Tây), các xã còn lại đạt từ 9 đến 15 tiêu chí, số tiêu chí trung bình đạt 14,8 tiêu chí trên xã. Đạt được những kết quả nêu trên là nhờ sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị và sự huy động nguồn lực đóng góp của nhân dân. Trong giai đoạn 2011-2019, đã thực hiện tốt các chính sách, cơ chế huy động các nguồn lực được 1.395,5 tỷ đồng, trong đó: Vốn ngân sách là 1.131 tỷ đồng, vốn lồng ghép là 82,1 tỷ đồng, vốn tín dụng là 6,4 tỷ đồng, vốn doanh nghiệp là 55,3 tỷ đồng và nhân dân đóng góp 120,7 tỷ đồng. Đến nay, toàn huyện có tỷ lệ km đường xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa, đảm bảo ô tô đi lại thuận tiện quanh năm đạt 87,7% (113,7/129,7km); tỷ lệ km đường trục ấp, liên ấp được cứng hóa, đảm bảo ô tô đi lại thuận tiện quanh năm đạt 84,8% (259,9/306,6km); tỷ lệ km đường trục chính nội đồng đảm bảo vận chuyển hàng hóa thuận tiện quanh năm đạt 40,1% (170,3/424,4km). Song song đó, hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất và dân sinh đạt 100%, tạo điều kiện cho bà con nông dân phát triển sản xuất, năng suất lúa hàng năm đạt cao (trên 50 tạ/ha); đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh hoạt động và phát triển, góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập của nhân dân địa bàn huyện; thu nhập bình quân đầu người đạt 47 triệu đồng/năm; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn dưới 4%.
 
tan thanh 10 nam dm2.jpg
Trường THCS Huỳnh Việt Thanh được xây dựng khang trang

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được, Chương trình XDNTM của huyện vẫn còn một số tồn tại như sau: 
Sự phối kết hợp giữa các ngành, các đoàn thể chính trị đôi lúc còn thiếu chặt chẽ trong công tác tuyên tuyền, vận động, nên còn một số người dân chưa nắm rõ chủ trương chính sách để chủ động thực hiện nội dung các công trình; chưa có nhiều các mô hình hay, những nhân tố tiêu biểu để nhân rộng. Nguồn vốn đầu tư của tỉnh còn thấp, nguồn vốn huyện còn nhiều khó khăn. Việc huy động nguồn lực để thực hiện chương trình còn nhiều hạn chế. Trong đó, mức huy động sự đóng góp của người dân chưa cao, chủ yếu là hiến đất; vốn đầu tư của doanh nghiệp chưa nhiều. Đời sống vật chất và tinh thần của dân cư nông thôn tuy được cải thiện nhưng chưa đáng kể, thu nhập của nông dân vẫn còn thấp, chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp; số hộ nghèo tuy có giảm nhưng vẫn còn mức cao, số hộ có nguy cơ tái nghèo lớn.

Mục tiêu Chương trình MTQG XDNTM giai đoạn 2020-2030

Giai đoạn 2020-2030, mục tiêu xây dựng nông thôn mới để đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn tiệm cận với khu vực đô thị; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn đồng bộ, hiện đại và kết nối chặt chẽ với quá trình đô thị hóa; kinh tế nông thôn phát triển mạnh mẽ, nâng cao trình độ sản xuất theo hướng tiên tiến, nông dân chuyên nghiệp, sản phẩm có sức cạnh tranh cao; sản xuất nông nghiệp gắn với phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; xã hội nông thôn dân chủ, bình đẳng, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường, cảnh quan, không gian nông thôn “sáng, xanh, sạch, đẹp”; hệ thống chính trị ở nông thôn được tăng cường; quốc phòng và an ninh trật tự được giữ vững.

Các giải pháp tập trung thực hiện 

Để phát huy những thành quả đạt được và khắc phục những mặt hạn chế và nâng cao hiệu quả xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện, trong thời gian tới huyện Tân Thạnh tập trung thực hiện tốt các giải pháp sau: 

Một là, tiếp tục đề cao trách nhiệm, phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng nông thôn mới, nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị về xây dựng nông thôn mới; phải coi đây là một nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên. Khẳng định vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng nông thôn mới. Quyết tâm duy trì giữ vững và nâng cao chất lượng các tiêu chí tại các xã đã đạt chuẩn nông thôn mới.

Hai là, tiếp tục kiện toàn Ban Chỉ đạo, Ban quản lý nông thôn mới các cấp, nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng nông thôn mới.

Ba là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền sâu rộng hơn nữa về ý nghĩa và tầm quan trọng của xây dựng nông thôn mới để người dân thông suốt về mặt nhận thức, từ đó tự nguyện đóng góp sức người, sức của trong xây dựng nông thôn mới.

Bốn là, tập trung huy động lồng ghép các nguồn lực vào xây dựng nông thôn mới, phát huy thế mạnh của địa phương, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động mọi tầng lớp nhân dân chung tay, góp sức xây dựng nông thôn mới, xây dựng địa phương giàu, đẹp, văn minh.
 
Năm là, chú trọng phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp gắn với phát triển dịch vụ, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp; đẩy mạnh hợp tác, liên kết, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, gắn sản xuất với thị trường, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng trên sản phẩm nhằm mục tiêu tăng thu nhập của người dân.

Sáu là, triển khai thực hiện tốt các cơ chế, chính sách của Trung ương, tỉnh về xây dựng  nông thôn mới để khuyến khích phát triển sản xuất, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn.

Bảy là, đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng  nông thôn mới, đô thị văn minh” và các phong trào thi đua của các đoàn thể. Tiếp tục xây dựng và nhân rộng các mô hình, cách làm có hiệu quả trong xây dựng nông thôn mới, xây dựng cảnh quan, môi trường nông thôn sáng, xanh, sạch, đẹp.

Phạm Hoàng Long
Phó Chánh văn phòng điều phối nông thôn mới tỉnh

26/09/2019 8:00 SAĐã ban hành
Long An tổ chức Hội nghị tổng kết 10 năm xây dựng nông thôn mớiLong An tổ chức Hội nghị tổng kết 10 năm xây dựng nông thôn mới

Chiều 20/9, UBND tỉnh Long An tổ chức tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới. Ông Phạm Văn Cảnh – Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Phó Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới tỉnh chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị còn có các thành viên Ban Chỉ đạo tỉnh, Lãnh đạo UBND các huyện, lãnh đạo Phòng NN và PTNT các huyện cùng đại diện các tập thể và cá nhân tiêu biểu trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 được Chủ tịch UBND tỉnh khen thưởng.
 
tk 10 nam ntm long an.jpg
Quang cảnh Hội nghị

Xây dựng nông thôn mới Long An đến nay đã có 77/166 xã đạt chuẩn NTM, chiếm 46,4%. Số tiêu chí bình quân/xã đạt 15,62 tiêu chí; không còn xã đạt dưới 9 TC; thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn khoảng 45 triệu đồng/năm. Nếu năm 2010, năm bắt đầu triển khai thực hiện toàn tỉnh chưa có xã đạt từ 14 tiêu chí trở lên, 15 xã đạt từ 10-13 tiêu chí (chiếm 9%), 84 xã đạt từ 6-9 tiêu chí (chiếm 50,6%), 67 xã đạt từ 2-5 tiêu chí (chiếm 40,4%) và số TC đạt bình quân/xã của tỉnh đạt 6 TC.

Tỉnh đã thẩm tra và hoàn chỉnh hồ sơ trình Trung ương thẩm định, công nhận huyện Châu Thành đạt chuẩn NTM và TP.Tân An hoàn thành nhiệm vụ XDNTM. dự kiến đến cuối năm 2019, tỉnh sẽ có 02 xã đạt xã NTM nâng cao là xã Hòa Phú (huyện Châu Thành) và Phước Hậu (huyện Cần Giuộc).
 
tk 10 nam ntm long an1.jpg
Ông Phan Văn Liêm – PGĐ Sở NN và PTNT, Chánh Văn Phòng Điều phối NTM tỉnh báo cáo kết quả thực hiện 10 năm xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020

 Có thể nói: Qua 10 năm  xây dựng NTM, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới rõ rệt; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư theo hướng hiện đại; đời sống vật chất tinh thần nhân dân không ngừng nâng cao, thu nhập bình quân đầu người/năm khu vực nông thôn tăng từ 15,6 triệu đồng năm 2010 lên 45 triệu đồng; tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh từ 7,37 % năm 2010 xuống còn 2,22%. Trong sản xuất nông nghiệp đã xây dựng được các vùng sản xuất chuyên canh, tập trung, ứng dụng công nghệ cao có hiệu quả; chất lượng nông sản ngày càng tăng, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thông tin, thể dục thể thao ngày càng được chú trọng, mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân được nâng lên rõ rệt. Hệ thống chính trị ở nông thôn hoạt động ngày càng tiến bộ, có nhiều đổi mới; trật tự an toàn xã hội ở nông thôn được giữ vững, quốc phòng được củng cố.

Trong xây dựng NTM, quan điểm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng” đã được các cấp, nhất là xã, ấp quán triệt sâu sắc, do đó dân chủ ở nông thôn được cải thiện rõ rệt, nhiều vấn đề bức xúc ở nông thôn được giải quyết kịp thời.

Giai đoạn 2011 - 2019, toàn tỉnh huy động trên trên 123.000 tỷ đồng XDNTM. Trong đó, vốn ngân sách Trung ương hỗ trợ trực tiếp 999,7 tỷ đồng; vốn ngân sách tỉnh 573 tỷ đồng; vốn lòng ghép các chương trình dự án gần 11.000 tỷ đổng; vốn tín dụng trên 103.600 tỷ đồng và đặc biệt: Vốn huy động từ cộng đồng, doanh nghiệp trên 7.000 tỷ đồng. Từ nguồn kinh phí này, tỉnh đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, thực hiện phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân,… làm cho bộ mặt nông thôn ngày càng khởi sắc.
 
tk 10 nam ntm long an2.jpg
Ông Phạm Văn Cảnh – Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Phó Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới tỉnh trao cơ thi đua của UBND tỉnh cho huyện Tân Trụ và Tân Thạnh

Để tuyên dương và ghi nhận những đóng góp của các tổ chức, cá nhân trong quá trình 10 năm thực hiện xây dựng nông thôn mới của tỉnh, nhân dịp Hội nghị này, Chủ tịch UBND tỉnh đã tặng cờ thi đua cho 02 tập thể (Tập thể huyện Tân Thạnh và Tân Trụ); tặng bằng khen cho 21 tập thể và 15 cá nhân nhận có thành tích xuất sắc trong thực hiện phong trào thi đua “Long An chung sức XDNTM”, giai đoạn 2016 - 2020.
 
tk 10 nam ntm long an3.jpg
Ông Nguyễn Thanh Truyền – Giám dốc Sở NN và PTNT, Phó Ban Chỉ đạo NTM tỉnh trao bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong xây dựng NTM giao đoạn 2016-2020.

Phát biểu kết luận Hộ nghị, Ông Phạm Văn Cảnh – Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Phó Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới tỉnh ghi nhận sự nỗ lực, cố gắng của các cấp, các ngành, doanh nghiệp và nhân dân về những kết quả đã đạt được trong 10 năm thực hiện xây dựng nông thôn mới, đồng thời cũng chỉ ra những khó khăn, tồn tại, hạn chế của tỉnh trong thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới trong thời gian qua và đề ra mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2030./.

Anh Nhung
Chi Cục PTNT và Thủy lợi

24/09/2019 9:00 SAĐã ban hành
Tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới vùng ĐBSCL và Đông Nam bộ giai đoạn 2010 – 2020Tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới vùng ĐBSCL và Đông Nam bộ giai đoạn 2010 – 2020

Ngày 14/9/2019, tại tỉnh Bạc Liêu, Ban chỉ đạo Trung ương các Chương trình Mục tiêu quốc gia tổ chức Hội nghị tổng kết Chương trình xây dựng nông thôn mới (XDNTM) khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và Đông Nam bộ giai đoạn 2010 - 2020. Tham dự Hội nghị có đồng chí Vương Đình Huệ, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM; Đồng chí Lê Minh Khái, Tổng Thanh tra Chính phủ; đồng chí Đào Ngọc Dung, Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH; lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương và 19 tỉnh, thành khu vực ĐBSCL và Đông Nam bộ và lãnh đạo Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh Bạc liêu. Về phía tỉnh Long An, tham dự Hội nghị có đồng chí Phạm Văn Cảnh - Phó Chủ tịch UBND tỉnh cùng các đồng chí lãnh đạo Sở Nông nghiệp và PTNT, Văn phòng điều phối NTM tỉnh và lãnh đạo huyện Châu Thành, Cần Đước.
 
hoi nghi vung ntm 2019.jpg
Đồng chí Vương Đình Huệ, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ phát biểu chỉ đạo tại hội nghị

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ĐBSCL và Đông Nam bộ là hai vùng có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Hai vùng có tổng diện tích đất tự nhiên chiếm 19,3% và dân số chiếm 37,2% của cả nước; có 1.731 xã; với địa hình tương đối bằng phẳng, vị trí thuận lợi, ít chịu ảnh hưởng của bão, có các điều kiện và lợi thế để phát triển công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của cả nước. 

Sau hơn 9 năm triển khai xây dựng nông thôn mới, cả hai vùng đã đạt được nhiều thành tựu toàn diện và vững chắc về xây dựng nông thôn mới. Cả hai vùng có 874/1.731 xã (chiếm 50,49%) được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới. Trong đó, vùng Đông Nam bộ có 311/445 xã (chiếm 69,89%) xã đạt nông thôn mới, trong khi đó vùng ĐBSCL có 563/1.286 xã (chiếm 43,78%) được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới. Về bình quân tiêu chí/xã: Vùng Đông Nam Bộ có bình quân 17,16 tiêu chí/xã, trong khi đó vùng ĐBSCL đạt bình quân 15,43 tiêu chí/xã. Cả hai vùng có 30 đơn vị cấp huyện đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn nông thôn mới/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, trong đó vùng Đông Nam Bộ có 18 đơn vị, vùng ĐBSCL có 12 đơn vị. Trong đó, đáng chú ý nhất là tỉnh Đồng Nai có 100% số xã được công nhận nông thôn mới, 100% đơn vị cấp huyện được thủ tướng Chính phủ công nhận đạt nông thôn mới/hoàn thành nông thôn mới. Tổng nguồn vốn huy động thực hiện chương trình từ năm 2010 - 2019 của hai vùng khoảng 932.498 tỷ đồng, cao nhất cả nước. Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội nông thôn được các địa phương chú trọng đầu tư xây dựng mới và nâng cấp, đã và đang hỗ trợ tốt cho việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, tổ chức lại sản xuất và nâng cao chất lượng đời sống, sinh hoạt cho người dân ở nông thôn. Các địa phương của hai vùng tập trung phát triển kinh tế và nâng cao thu nhập cho người dân với tỷ lệ các xã đạt chuẩn các tiêu chí về thu nhập, tỷ lệ hộ nghèo, nhà ở khu dân cư đều cao hơn nhiều so với bình quân cả nước.
 
hoi nghi vung ntm 20191.jpg
Quang cảnh Hội nghị

Mục tiêu đến năm 2025, có ít nhất 08/19 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương vùng ĐBSCL và Đông Nam bộ được Thủ tướng Chính phủ công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới. Trong đó, ĐBSCL có 4 tỉnh, thành phố, Đông Nam bộ có 4 tỉnh, thành phố. Về cấp huyện: Vùng Đông Nam bộ có ít nhất 70% đơn vị và vùng ĐBSCL có 50% cấp huyện được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới. Mỗi tỉnh, thành phố có ít nhất một đơn vị cấp huyện được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu. Cấp xã: Vùng Đông Nam bộ có ít nhất 90% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó khoảng 40% số xã đạt nông thôn mới nâng cao và 10% số xã đạt nông thôn mới kiểu mẫu; vùng ĐBSCL có ít nhất 75% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó khoảng 30% số xã đạt nông thôn mới nâng cao và 5% số xã đạt nông thôn mới kiểu mẫu. Các công trình hạ tầng thiết yếu như giao thông, điện, nước, trường học, trạm tế đảm bảo tính kết nối, liên thông và ứng phó với biến đổi khí hậu. Chất lượng cuộc sống của cư dân nông thôn được nâng cao, thu nhập bình quân tăng ít nhất 1,8 lần…

Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, Phó Thủ tướng Chính phủ - Vương Đình Huệ ghi nhận những kết quả xây dựng nông thôn mới của vùng ĐBSCL và Đông Nam Bộ trong việc tác động tích cực đến cơ cấu sản xuất, lao động khu vực nông thôn, góp phần nâng cao đời sống nhân dân về vật chất, tinh thần và đẩy mạnh công tác giảm nghèo. Phó Thủ tướng đề nghị từng địa phương rà soát lại, so sánh với các địa phương khác để phát huy kết quả làm được, khắc phục những tồn đọng, từ đó đưa ra phương hướng phù hợp với địa phương mình trong giai đoạn tiếp theo. Đặc biệt, các địa phương phải phát huy tốt quan điểm lấy người dân làm chủ thể, nhưng không được huy động sức dân quá sức mà phải trên tinh thần tự nguyện, hợp lòng dân. Trong thời gian tới, Chính phủ sẽ tiếp tục phân cấp mạnh hơn cho địa phương quyết định các tiêu chí nông thôn mới. Các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu, đóng góp ý kiến về quy hoạch phát triển vùng nông thôn ĐBSCL trong điều kiện thích ứng với biến đổi khí hậu; tính toán việc xây dựng thôn, ấp nông thôn mới. Các địa phương đẩy mạnh việc triển khai thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm.

Phạm Hoàng Long
Phó Chánh văn phòng điều phối nông thôn mới tỉnh


.

17/09/2019 10:00 SAĐã ban hành
Hội nghị trực tuyến đánh giá kết quả 03 năm thực hiện Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (CNC) gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệpHội nghị trực tuyến đánh giá kết quả 03 năm thực hiện Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (CNC) gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp

Ngày 12/9/2019, Tỉnh ủy Long An tổ chức Hội nghị trực tuyến với các huyện, thị xã, thành phố nhằm đánh giá kết quả 3 năm triển khai thực hiện Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Tại Hội trường Tỉnh ủy, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh - Phạm Văn Rạnh; Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh - Trần Văn Cần đồng chủ trì hội nghị, cùng đại diện các Sở, ban, ngành tỉnh tham dự.
 
tk cnc 2019.jpg
Ông Phạm Văn Rạnh, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND Tỉnh phát biểu tại Hội nghị

Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, qua 3 năm thực hiện Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC gắn với tái cơ cấu ngành Nông nghiệp đã đạt được kết quả khả quan. Công tác tuyên truyền góp phần chuyển biến tích cực trong nhận thức của cán bộ, công chức, người lao động và nhân dân; nhiều mô hình cho hiệu quả cao đã tạo sức lan tỏa và ủng hộ của người dân, nhiều hộ dân sau khi tham gia học tập đã tự đầu tư xây dựng nhà lưới, hệ thống tưới nước tiết kiệm, ứng dụng cơ giới hóa đồng bộ, sử dụng phân hữu cơ thay thế dần cho phân hóa học. Đến nay, tỉnh Long An đã xây dựng 4 vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC, trong đó vùng trồng thanh long 2.000 ha, vùng lúa gạo có 15.000 ha, vùng trồng rau chuyên canh 2.000 ha và vùng chăn nuôi bò thịt với hơn 4.000 con. Để thực hiện chương trình đạt hiệu quả, ngành nông nghiệp tỉnh đã phối hợp với UBND các huyện trong vùng ứng dụng CNC tổ chức lại sản xuất và xây dựng các Hợp tác xã (HTX) điểm. Đến nay, trong vùng sản xuất ứng dụng CNC đã thành lập và cũng cố được 43 HTX nông nghiệp và 151 tổ hợp tác (THT). Trong đó, UBND tỉnh đã phê duyệt 16 HTX điểm, bao gồm 4 HTX điển hình ứng dụng CNC trong sản xuất nông nghiệp. Việc ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất trong các HTX nông nghiệp góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm giá thành sản xuất, cũng như rủi ro và sự phụ thuộc vào thời tiết; nhất là bảo đảm truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và vệ sinh môi trường, góp phần tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp và tăng thu nhập cho người sản xuất.

Tuy nhiên, Chương trình vẫn còn gặp một số khó khăn như: Việc thu hút đầu tư của các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn do thiếu quỹ đất sạch để, số doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao còn ít; Một số mô hình trình diễn sản xuất ứng dụng CNC bước đầu thực hiện có hiệu quả nhưng khi nhân rộng lại gặp khó khăn về vốn; Việc liên kết sản xuất, bao tiêu sản phẩm một số mô hình còn hạn chế; Các HTX nông nghiệp nói chung và HTX nông nghiệp ứng dụng CNC nói riêng còn khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác. 
 
tk cnc 20191.jpg
Toàn cảnh Hội nghị

Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh - Phạm Văn Rạnh đánh giá cao kết quả đạt được qua 03 năm triển khai thực hiện Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Trong thời gian tới, để đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chương trình, đề nghị các ngành và địa phương tập trung thực hiện các giải pháp: Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, giới thiệu những mô hình sản xuất có hiệu quả; Tập trung xây dựng các HTX điểm ứng dụng CNC, phấn đấu đến cuối năm 2019 hoàn thành xây dựng 04 hợp tác xã điển hình; Tiếp tục tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng trong các vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC nhằm đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa trong vùng CNC được thuận lợi; Tạo điều kiện cho các HTX nông nghiệp được tiếp cận nguồn vốn vay để đầu tư máy móc, vật tư ứng dụng CNC đáp ứng nhu cầu của HTX; Tăng cường công tác xúc tiến thương mại các mặt hàng chủ lực của tỉnh, hỗ trợ phát triển những điểm bán thực phẩm an toàn nhằm tạo điều kiện cho người dân trong tỉnh có điều kiện tiêu thụ sản phẩm sạch, an toàn; Khuyến khích hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản với nông dân, duy trì được mối quan hệ giữa doanh nghiệp, HTX và nông dân trong liên kết và tiêu thụ nông sản./.

Phạm Hoàng Long
Phó Chánh Văn phòng điều phối NTM

16/09/2019 8:00 SAĐã ban hành
​  UBND tỉnh chỉ đạo tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới năm 2019​  UBND tỉnh chỉ đạo tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới năm 2019


Theo báo cáo kết quả kiểm tra của Đoàn kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới năm 2019 do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm Trưởng đoàn, trong 8 tháng đầu năm 2019, nhờ sự tập trung chỉ đạo của các sở, ngành, địa phương về Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) xây dựng nông thôn mới (NTM) nên tiến độ thực hiện Chương trình đạt được kết quả tích cực. Đến nay, toàn tỉnh đã có 77/166 xã đạt chuẩn NTM (chiếm 46,4%), bình quân đạt 15,5 tiêu chí/xã. Tiến độ thực hiện các tiêu chí của các xã trong lộ trình xây dựng NTM năm 2019 đạt từ 16 – 18 tiêu chí/xã. Các xã đạt chuẩn NTM từ năm 2016 trở về trước đã và đang tập trung đầu tư nâng chất để không còn nợ tiêu chí. Huyện Châu thành và thành phố Tân An đang hoàn chỉnh hồ sơ trình Trung ương công nhận huyện đạt chuẩn NTM và thành phố hoàn thành nhiệm vụ NTM,... 
 
ubnd tinh chi dao xdntm 2019.jpg
Ông Phan Văn Liêm-PGĐ Sở NN và PTNT, Chánh VPĐP NTM tặng bằng khen UBND tỉnh cho tập thể, cá nhân tại buổi lễ Công bố xã Phước Đông-huyện Cần Đước đạt chuẩn NTM

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được thì việc thực hiện Chương trình xây dựng NTM vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như: Tiến độ thực hiện và giải ngân nguồn vốn Chương trình MTQG xây dựng NTM còn chậm, trong đó tiến độ thực hiện nguồn vốn hỗ trợ cơ sở hạ tầng cho các Hợp tác xã (HTX) còn gặp nhiều khó khăn, một số HTX khó khăn về vốn đối ứng, thủ tục cấp phép xây dựng; Việc công nhận lại Trường học đạt chuẩn chưa được các địa phương quan tâm, còn lúng túng trong việc công nhận lại các trường sau khi sáp nhập; Tiêu chí nước sạch đạt thấp, nhất là các huyện vùng hạ: Cần Đước, Cần Giuộc. Vẫn còn 02 huyện Mộc Hóa và Đức Huệ chưa có xã đạt chuẩn NTM.

Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế trên là: Một số địa phương chưa tập trung trong việc chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra tiến độ thực hiện chương trình, tiến độ thực hiện các nguồn vốn; công tác tuyên truyền, vận động xây dựng NTM chưa có chiều sâu; nguồn lực đầu tư cho Chương trình còn hạn chế trong khi nhu cầu của các địa phương là rất lớn,...

Để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên và phấn đấu đạt các chỉ tiêu năm 2019, UBND tỉnh đã ban hành Công văn số 4812/UBND-KTTC yêu cầu các Sở, ngành tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành phố tập trung thực hiện những nội dung trọng tâm sau:

ubnd tinh chi dao xdntm 20191.jpg 
Kiểm tra tình hình thực hiện Chương trình XDNTM năm 2019 tại huyện Cần Đước

Một là, UBND huyện, thị xã, thành phố chỉ đạo các xã trong kế hoạch năm 2019 tiến hành rà soát, đánh giá thực trạng các xã so với 19 tiêu chí NTM và có lộ trình cụ thể để thực hiện các tiêu chí chưa đạt; đồng thời, phân công các phòng, ban cấp huyện thường xuyên kiểm tra, đôn đốc tiến độ thực hiện các tiêu chí, đảm bảo đến cuối năm 2019 có thêm xã đạt chuẩn NTM theo kế hoạch (toàn tỉnh ít nhất là 08 xã). Đối với các xã đã đạt chuẩn NTM từ năm 2016 trở về trước phải có kế hoạch củng cố, nâng chất các tiêu chí để đảm bảo đến cuối năm 2019 không còn xã nợ tiêu chí. Trong quá trình chỉ đạo, các địa phương thực hiện nghiêm Công văn số 1889/UBND-KTTC ngày 26/4/2019 của UBND tỉnh về đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM năm 2019.

Hai là, các sở, ngành, địa phương đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện các nguồn vốn Chương trình xây dựng NTM đã được phân bổ, trong đó, tập trung đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng để thi công các công trình và giải ngân các nguồn vốn, đảm bảo đến cuối năm 2019 đạt kế hoạch tỉnh giao. Các địa phương cần có sự quan tâm, phối hợp với các sở, ngành tỉnh để kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc tồn tại như: khó khăn của các HTX, công tác giải phóng mặt bằng thi công công trình,... Đối với các nguồn vốn cần điều chỉnh, các sở, ngành tỉnh, UBND huyện, thị xã, thành phố phải gửi văn bản đề nghị điều chỉnh về Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Ba là, các sở, ngành tỉnh, UBND huyện, thị xã thành phố khẩn trương tổ chức Tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2010 – 2020 theo Kế hoạch số 66/KH-UBND ngày 27/3/2019 của UBND tỉnh. Trong đó, cần đánh giá những khó khăn, thuận lợi trong quá trình triển khai cũng như bài học kinh nghiệm, đề xuất kiến nghị thực hiện Chương trình trong thời gian tới. Qua đó, kịp thời biểu dương khen thưởng những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong quá trình xây dựng NTM tại địa phương để học tập và nhân rộng.

Bốn là, Đối với tiêu chí nước sạch: Thực hiện đúng theo tinh thần tại Quyết định 1687/QĐ-UBND ngày 11/5/2019 của UBND tỉnh về việc phê duyệt Kế hoạch thực hiện giải pháp nâng tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước sạch đến năm 2020 đạt 45%. Riêng đối với các huyện vùng hạ: Cần Đước, Cần Giuộc, giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẩn trương chỉ đạo các đơn vị thi công đẩy nhanh tiến độ thi công và công tác đấu nối đường ống dẫn nước đến người dân; chủ trì, phối hợp với các sở, ngành tỉnh tham mưu giải pháp cấp bách để cung cấp nước sạch cho huyện Cần Đước và huyện Cần Giuộc, đảm bảo chỉ tiêu theo Kế hoạch của tỉnh đề ra. 

Năm là, đối với huyện Châu thành và thành phố Tân An: Khẩn trương hoàn chỉnh các hồ sơ, thủ tục trình Trung ương thẩm định, công nhận đạt huyện nông NTM, thành phố hoàn thành nhiệm vụ NTM. Trong đó, cần tập trung công tác cải tạo cảnh quan môi trường, trồng cây xanh trên các trục đường giao thông, nơi công cộng như: trụ sở UBND xã, trường học, trạm y tế,…; tổ chức phát động các Đoàn thể xã, ấp ra quân thực hiện phong trào thu gom rác, trồng cây xanh; từ đó làm thay đổi nhận thức của người dân, xây dựng và nhân rộng các mô hình tự quản xây dựng ấp, khu phố xanh, sạch, đẹp, an toàn.

Sáu là, đối với huyện Đức Huệ và huyện Mộc Hóa: Cần tập trung thực hiện các nội dung theo Thông báo số 309/TB-UBND ngày 25/7/2019 của UBND tỉnh, trong đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên tuyền vận động người dân, phát động phong trào chung sức xây dựng NTM, tập trung nguồn lực để đầu tư xây dựng các công trình trên địa bàn huyện; xác định lộ trình cụ thể và xây dựng kế hoạch để thực hiện các tiêu chí xã NTM để đề nghị các sở, ngành tỉnh hỗ trợ thực hiện các tiêu chí chưa đạt.

Phạm Hoàng Long
Phó Chánh Văn phòng Điều phối nông thôn mới tỉnh

11/09/2019 11:00 SAĐã ban hành
Huyện Tân Trụ-Kết quả đạt được sau 10 năm xây dựng nông thôn mớiHuyện Tân Trụ-Kết quả đạt được sau 10 năm xây dựng nông thôn mới

Tân Trụ là một huyện nằm phía Đông Nam của tỉnh Long An có vị trí địa lý rất thuận lợi: Phía Bắc giáp huyện Bến Lức, phía Đông giáp huyện Cần Đước, phía Nam giáp huyện Châu Thành, phía Tây giáp thành phố Tân An và huyện Thủ Thừa. Toàn huyện có thị trấn Tân Trụ và 10 xã.
 
huyen tan tru ntm 2019.jpg
Ông Trương Thanh Liêm-Chủ tịch UBND huyện Tân Trụ phát biểu tại Hội nghị tổng kết 10 năm XDNTM

Xác định xây dựng nông thôn mới (XDNTM) là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, nên từ khi UBND tỉnh phát động xây dựng nông thôn mới, Ban thường vụ Huyện ủy đã ban hành Chỉ thị về thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; Ủy ban nhân dân huyện đã xây dựng Chương trình đầu tư xây dựng nông thôn mới và kế hoạch thực hiện hàng năm; Đảng ủy xã đã ban hành Nghị quyết chuyên đề về Chương trình xây dựng nông thôn mới; UBND các xã xây dựng Đề án thực hiện Chương trình nông thôn mới trên địa bàn xã. Bên cạnh đó, UBND huyện chỉ đạo các ngành, các cấp tập trung công tác tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra các xã trong quá trình thực hiện. Mặt trận tổ quốc, các tổ chức Đoàn thể huyện cùng các ngành tích cực hưởng ứng và phát động nhiều phong trào thi đua thiết thực từ đó huy động được sự tham gia của cả hệ thống chính trị và nhân dân tham gia xây dựng nông thôn mới.
 
huyen tan tru ntm 20191.jpg
Khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích trong xây dựng nông thôn mới

Kết quả sau 10 năm thực hiện Chương trình XDNTM

Về phát triển sản xuất, huyện đã tập trung chỉ đạo các ngành, các địa phương triển khai Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, Chương trình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Qua đó, có nhiều mô hình sản xuất có hiệu quả: Mô hình canh tác lúa theo hướng công nghệ cao, mô hình trồng rau trong nhà lưới, mô hình tưới nước tiết kiệm trên cây thanh long, mô hình nuôi thủy sản: tôm nước lợ theo hướng Vietgaph, cá trê và tôm thẻ kết hợp cá rô phi,… góp phần nâng cao thu nhập cho người dân. Các hình thức sản xuất không ngừng phát triển, toàn huyện có 8 HTX nông nghiệp đã được thành lập và đi vào hoạt động ổn định, các mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị gắn với tiêu thụ luôn được quan tâm, hỗ trợ. Bên cạnh đó, công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn luôn được cấp ủy đảng, chính quyền quan tâm, đã mở được 129 lớp với 3.720 học viên tham dự, nâng tỷ lệ lao động có việc làm đạt 99,9%.

huyen tan tru ntm 20192.jpg 
Mô hình Đường giao thông sáng-xanh-sạch tại Ấp Bình Hòa-xã Bình Lãng 

Về kết cấu hạ tầng khu vực nông thôn không ngừng phát triển, các tuyến đường trục xã, liên xã đã được nhựa hóa theo tiêu chuẩn; đường trục ấp, ngõ xóm được tập trung đầu tư, nâng cấp đáp ứng tốt nhu cầu giao thông đi lại của nhân dân; hệ thống thủy lợi đảm bảo phục vụ sản xuất nông nghiệp và phòng, chống thiên tai; Trường học được đầu tư nâng cấp, đến nay huyện đã có 20/25 trường đạt chuẩn quốc gia; Trung tâm Văn hóa thể thao và học tập công đồng xã, nhà văn hóa ấp được đầu tư, nâng cấp và mua sắm trang thiết bị. Các trạm y tế xã được đầu tư, nâng cấp (có 10/10 xã được công nhận đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế). Hệ thống điện thường xuyên được đầu tư mới, nâng cấp và sửa chữa, tỷ lệ hộ sử dụng điện đạt 100%. Bên cạnh đó, UBND các xã thường xuyên vận động nhân dân cải tạo, nâng cấp, xây mới nhà ở đạt chuẩn của Bộ Xây dựng, huy động sự tham gia của cộng đồng, các tổ chức hỗ trợ xây dựng nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết góp phần xóa nhà tạm, nhà dột nát trên địa bàn.
 
huyen tan tru ntm 20193.jpg
Trường trung học cơ sở Bình Lãng được xây dựng khang trang

Các hoạt động văn nghệ được quần chúng đẩy mạnh. Ý thức bảo vệ môi trường được nâng lên, môi trường nông thôn được cải thiện rỏ rệt, cảnh quan môi trường được chỉnh trang, cải tạo theo hướng sáng, xanh, sạch. Hệ thống chính trị cơ sở không ngừng được cũng cố và phát huy sức mạnh tổng hợp. Đội ngũ cán bộ công chức cấp xã ngày càng hoàn thiện cả về chính trị và năng lực huyên môn. An ninh trật tự xã hội nông thôn tiếp tục được giữ vững và ổn định. Phong trào thi đua chung sức xây dựng nông thôn mới được nhân dân và xã hội đồng tình hưởng ứng mạnh mẽ, tạo ra sức lan tỏa lớn và đã mang lại hiệu quả to lớn, góp phần quan trọng vào kết quả xây dưng nông thôn mới của huyện. Đến nay, huyện có 7/10 xã đạt tiêu chí nông thôn mới, số tiêu chí bình quân/xã đạt 17,5 tiêu chí (tăng 12,1 tiêu chí so với năm 2010), tỷ lệ hộ nghèo đa chiều chiếm 2,67% (giảm 3,85% so với năm 2010).
 
huyen tan tru ntm 20194.jpg
Mô hình chuyển đổi sang trồng thanh long góp phần nâng cao thu nhập 
của người dân tại xã Bình Tịnh

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Chương trình XDNTM còn hạn chế, tồn tại: Nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và người dân còn hạn chế, còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự đầu tư từ ngân sách của nhà nước. Công tác quy hoạch xã NTM chậm điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với tình hình phát triển của xã hội. Chất lượng một số tiêu chí của một số xã đạt chuẩn NTM thiếu bền vững cần phải được cũng cố, nâng chất. Thu nhập từ sản xuất nông nghiệp có tăng nhưng việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi có hiệu quả kinh tế cao còn chậm, việc liên kết, hợp tác trong sản xuất chế biến tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp chủ lực của huyện còn khó khăn. Việc huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới còn gặp nhiều khó khăn. Cảnh quan môi trường mặc dù có cải thiện nhưng chưa thật sự xanh, sạch, đẹp.

Định hướng xây dựng nông thôn mới năm 2020 và định hướng đến 2030

Huyện phấn đấu đến cuối năm 2020 có 100% xã đạt nông thôn mới, số tiêu chí bình quân đạt 19 tiêu chí/xã. Giai đoạn 2021-2025, huyện có 50% số xã đạt tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao, 20% số xã đạt xã nông thôn mới kiểu mẫu và huyện đạt chuẩn nông thôn mới. Giai đoạn 2026-2030 có huyện có 100% số xã đạt tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao, 50% số xã đạt xã nông thôn mới kiểu mẫu.

Để đạt các chỉ tiêu năm 2020 và định hướng đến năm 2030, cần tập trung các giải pháp sau:

Một là, tăng cường tuyên truyền, tập huấn để nâng cao nhận thức cho người dân về nội dung, phương pháp, cách thực thực hiện xây dựng nông thôn mới. Đào tạo, tập huấn, nâng cao kiến thức năng lực tổ chức, quản lý vận hành Chương trình nhất là đội ngũ cán bộ phụ trách nông thôn mới.

Hai là, tập trung phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu trên địa bàn ấp, trong đó tập trung ba công trình thiết yếu gồm: Bê tông hóa nâng cấp đường giao thông nông thôn, nâng cấp hệ thống cung cấp nước sinh hoạt và cải tạo thiết chế văn hóa cơ sở.

Ba là, phát triển sản xuất gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập cho người dân, trong đó tập trung bổ sung, điều chỉnh quy hoạch và đề án xây dựng xã nông thôn mới đảm bảo tính khả thi và phù hợp với yêu ầu tái cơ cấu ngành; đẩy mạnh chuyển giao ứng dụng khoa học kỹ thuật và sản xuất; nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn và phát triển các hình thức sản xuất phù hợp, trong đó chú trọng phát triển các HTX, THT hoạt động có hiệu quả.

Năm là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất văn hóa thể thao thiết thực với người dân, tạo điều kiện đển phát triển các hoạt động thể thao trên địa bàn ấp. Tập trung giải quyết vấn đề thu gom xử lý rác thải sinh hoạt, xử lý môi trường trong sản xuất nông nghiệp và nhân rộng các mô hình cảnh quan môi trường “xanh, sạch, đẹp”.

Sáu là, triển khai có hiệu quả các chính sách huy động nguồn lực thực hiện Chương trình. Kiện toàn bộ máy, tổ chức tham mưu, giúp việc Ban chỉ đạo đảm bảo thực hiện nhiệm vụ các nhiệm vụ của Chương trình.

Bảy là, phát động phong trào thi đua để huy động các nguồn lực và người dân tham gia thực hiện Chương trình. Kịp thời biểu dương các tập thể, tổ chức, cá nhân hộ gia đình có nhiều đóng góp tích cực cho xây dựng nông thôn mới.

Tóm lại, cùng với sự tập trung chỉ đạo của Huyện ủy, UBND huyện, sự tham gia của các ngành, Đoàn thể huyện, UBND các xã và sự hưởng ứng tích cực của toàn thể nhân dân trong huyện, Chương trình xây dựng nông thôn mới của huyện Tân Trụ sẽ đạt các chỉ tiêu đề ra. 

Phạm Hoàng Long-
Phó chánh văn phòng điều phối nông thôn mới tỉnh


11/09/2019 11:00 SAĐã ban hành
Bí thư Tỉnh ủy đối thoại với nhân dân năm 2019 về xây dựng Hợp tác xã điểm chăn nuôi bò thịt tại huyện Đức HòaBí thư Tỉnh ủy đối thoại với nhân dân năm 2019 về xây dựng Hợp tác xã điểm chăn nuôi bò thịt tại huyện Đức Hòa


Chiều ngày 06/9/2019, tại Hội trường Trung tâm văn hóa Thể thao và học tập cộng đồng xã Hòa Khánh Đông, huyện Đức Hòa, Bí thư Tỉnh ủy Long An – ông Phạm Văn Rạnh tiếp xúc, đối thoại với hợp tác xã chăn nuôi bò thịt Hòa Khánh Đông và người chăn nuôi bò thịt trên địa bàn các xã Hòa Khánh Tây, Hòa Khánh Nam và  Hòa Khánh Đông, huyện Đức Hòa, về xây dựng hợp tác xã (HTX) điểm thực hiện Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp.

doi thoai hxt 2019.jpg
Bí thư Tỉnh ủy Long An - Phạm Văn Rạnh phát biểu tại buổi đối thoại

Tham dự có lãnh đạo UBND tỉnh, các sở, ngành, địa phương, đại diện hợp tác xã Chăn nuôi bò thịt Hòa Khánh Đông và hộ chăn nuôi bò thịt trên địa bàn huyện; khách mời là đại diện Cục Chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và PTNT; Giảng viên trường Đại học Nông Lâm TP. HCM; Trường Cán bộ Quản lý nông nghiệp và Phát triển nông thôn II và đại diện Công ty TNHH Đầu tư và phát triển Thanh Nhân Food.

Tại buổi đối thoại, đại diện hợp tác xã Chăn nuôi bò thịt Hòa Khánh Đông nêu thực trạng HTX, những thuận lợi khó khăn trong xây dựng HTX, đồng thời kiến nghị hỗ trợ xây dựng HTX điểm về chăn nuôi bò thịt ứng dụng công nghệ cao. Hỗ trợ hợp tác xã tiếp cận doanh nghiệp tiêu thụ bò thịt và bò giống. 
 
doi thoai hxt 20191.jpg
Ông Nguyễn Võ Thanh Quang-GĐ HTX phát biểu ý kiến tại buổi đối thoại

Các hộ chăn nuôi bò có ý kiến về các vấn đề liên quan đến quá trình sản xuất, chăn nuôi và tiêu thụ bò thịt. Qua đó kiến nghị cơ quan chức năng cần thông tin cho người chăn nuôi bò về những chính sách như: Lượng tinh bò giống, thuốc sát trùng chuồng trại, giống cỏ chất lượng cao phục vụ sản xuất. Hỗ trợ về giá điện, vay vốn; kỹ thuật chăn nuôi,…
 
doi thoai hxt 20192.jpg
Nông dân kiến nghị tại buổi đối thoại

Về xây dựng mô hình HTX điểm, Tiến sĩ Trần Minh Hải- Trường Cán bộ Quản lý nông nghiệp và Phát triển nông thôn II phát biểu sẽ phối hợp cùng với các sở ngành, huyện, xã và HTX Chăn nuôi bò thịt Hòa Khánh Đông xây dựng mô hình thí điểm hợp tác xã điển hình phát triển có hiệu quả theo hướng đa mục tiêu, thành viên đa dạng, kinh doanh đa ngành nghề, đa dịch vụ nông nghiệp và phi nông nghiệp.
Đại diện Cục Chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và PTNT và giảng viên Trường Đại học Nông Lâm TP. HCM thông tin về kỹ thuật chăn nuôi, cách chọn giống bò chất lượng cao, giống cỏ, thức ăn, cách thức chăn nuôi bò ứng dụng công nghệ cao,.... 

Tại cuộc họp, Bí thư Tỉnh ủy Long An – ông Phạm Văn Rạnh cho biết Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp là 1 trong 2 chương trình đột phá của tỉnh. Trong đó lựa chọn con bò thịt là một trong những sản phẩm chủ lực để thực hiện Chương trình, đến năm 2020 sẽ xây dựng vùng chăn nuôi bò thịt ứng dụng công nghệ cao tại huyện Đức Hòa và Đức Huệ. Thời gian qua thực hiện Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao có sự chuyển biến bước đầu đối với vùng chăn nuôi bò thịt ở 02 huyện Đức Hòa và Đức Huệ.
 
doi thoai hxt 20193.jpg
Tiến sĩ Trần Minh Hải- Trường Cán bộ Quản lý nông nghiệp và Phát triển nông thôn II phát biểu tại buổi đối thoại

Bí thư Tỉnh ủy cho rằng, để có thể chăn nuôi hiệu quả, phát triển bền vững theo hướng ứng dụng công nghệ cao thì người nông dân cần thay đổi các tập quán chăn nuôi vốn đã lạc hậu, cần liên kết theo các mô hình hợp tác xã, tổ hợp tác,…HTX không nên trông chờ vào chính sách, phải tiếp tục củng cố HTX, vận động thêm thành viên tham gia HTX. Đối  với thành viên HTX và bà con chăn nuôi tham gia HTX, tham gia các lớp tập huấn đầy đủ, tham gia cùng liên kết hình thành các mô hình hợp tác xã để cùng gắn kết, tạo điều kiện thuận lợi trong việc chăn nuôi và tiêu thụ bò thịt,... 

Bí thư Tỉnh ủy đề nghị UBND tỉnh tiếp tục chỉ đạo các sở ngành địa phương củng cố HTX, tuyên truyền về xây dựng HTX, người dân tham gia HTX. Đề nghị UBND huyện, xã tiếp tục củng cố HTX chăn nuôi bò thịt Hòa Khánh Đông, hỗ trợ các cơ sở giết mổ, doanh nghiệp liên kết chăn nuôi, sản xuất và tiêu thụ với HTX, THT chăn nuôi bò của địa phương. Đồng thời tăng cường tuyên truyền về các chính sách hỗ trợ để người dân biết và tiếp cận. Mời gọi các doanh nghiệp tăng cường đầu tư vào vùng chăn nuôi bò thịt ứng dụng công nghệ cao của tỉnh, hỗ trợ tiêu thụ bò thịt cho người chăn nuôi,…đề nghị các chuyên gia hỗ trợ tỉnh hướng dẫn đào tạo, bồi dưỡng xây dựng  mô hình HTX điểm và vùng chăn nuôi bò thịt ứng dụng công nghệ cao.

Với hy vọng sau buổi đối thoại này sẽ có sự chuyển biến trong chăn nuôi bò thịt ứng dụng công nghệ cao của người chăn nuôi, nhất là đối với HTX chăn nuôi bò thịt Hòa Khánh Đông sẽ củng cố và phát triển một cách năng động, chủ động hơn, xây dựng thành công HTX điểm hoạt động hiệu quả./.

Thu Sương
Chi cục Phát triển nông thôn và Thủy lợi


11/09/2019 10:00 SAĐã ban hành
​  Tổ chức lớp bồi dưỡng nguồn nhân lực các hợp tác xã  nông nghiệp trên địa bàn tỉnh năm 2019​  Tổ chức lớp bồi dưỡng nguồn nhân lực các hợp tác xã  nông nghiệp trên địa bàn tỉnh năm 2019

Nhằm củng cố kiến thức về phát triển kinh tế hợp tác; những lợi ích của hợp tác xã (HTX), lợi ích của người dân khi tham gia HTX; quyền và nghĩa vụ của thành viên HTX; kỹ năng tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia xây dựng và phát triển HTX cho các cán bộ cấp xã, Sở Nông nghiệp và PTNT (Chi cục PTNT và Thủy lợi) tổ chức “lớp bồi dưỡng nguồn nhân lực hợp tác xã trên địa bàn tỉnh năm 2019” trên địa bàn 04 huyện xây dựng mô hình HTX điển hình ở huyện Châu Thành, Vĩnh Hưng, Cần Giuộc và Đức Hòa.
 
tap huan htx 2019.jpg
Giảng viên-Ths.Nguyễn Hoàng Mỹ Phương trình bày nội dung bài giảng với lớp học

Theo đó trong 02 ngày 5 và 6 tháng 9 năm 2019, lớp tập huấn được tổ chức tại huyện Đức Hòa với khoảng 70 học viên tham dự là cán bộ cấp xã, thị trấn và cán bộ, thành viên của 05 HTX trên địa bàn huyện. Nội dung bài giảng do Giảng viên Trung tâm Đào tạo và Tư vấn Kinh tế hợp tác thuộc Trường Cán bộ Quản lý nông nghiệp và Phát triển nông thôn II trình bày với các nội dung: giới thiệu các cách làm hay của các nước về HTX như: Thái Lan, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc,...;Bản chất và cách xây dựng HTX điểm; tổ chức dịch vụ HTX theo phương pháp huy động nội lực cộng đồng; lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội khi tham gia HTX; cách tuyên truyền, vận động người dân tham gia vào HTX;...Cũng tại lớp tập huấn này, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật và Quản lý chất lượng nông sản triển khai các quy định về điều kiện kinh doanh vật tư nông nghiệp.

tap huan htx 20191.jpg 
Ông Thái Văn Chiệu, cán bộ Chi cục Chi cục Trồng trọt BVTV và QLNS trình bày điều kiện kinh doanh vật tư nông nghiệp

Thông qua lớp tập huấn này, các học viên là cán bộ cấp xã có được những kiến thức cơ bản để hỗ trợ các HTX, có kỹ năng vận động người dân tham gia HTX cũng như hỗ trợ các sáng lập viên có nhu cầu thành lập HTX. Cán bộ của các HTX và các thành viên HTX được trang bị các nội dung khái niệm, quyền, nghĩa vụ của HTX và thành viên HTX, đặc điểm HTX kiểu mới có thể vận dụng được các phương pháp quản lý trong hợp tác xã như: Phương pháp quản lý sản xuất, quản lý lao động, quản lý tài chính,...

Thu Sương
Chi cục Phát triển nông thôn và Thủy lợi

11/09/2019 9:00 SAĐã ban hành
 Hiệu quả từ thực hiện Cuộc vận động 5 không, 3 sạch gắn với xây dựng nông thôn mới của Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Hiệu quả từ thực hiện Cuộc vận động 5 không, 3 sạch gắn với xây dựng nông thôn mới của Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh

Thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới, đến nay toàn tỉnh Long An đã có 77/166 xã đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm 46,4% tổng số xã toàn tỉnh. Số tiêu chí đạt bình quân/xã đạt 15,5 tiêu chí. Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn năm 2018 đạt 45 triệu đồng/người.

Để đạt được kết quả như ngày hôm nay là nhờ sự quyết tâm, góp sức của toàn dân và cả hệ thống chính trị, nổi bật là sự góp phần tích cực của Hội Liên hiệp phụ nữ (Hội LHPN) tỉnh với việc thực hiện cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch” gắn với xây dựng nông thôn mới đã đạt được nhiều kết quả tốt.

Bà Đỗ Thị Kim Thắm, Phó Chủ tịch Hội LHPN tỉnh, cho biết: Các cấp hội trong tỉnh đã tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn hội viên thực hiện 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới và xây dựng gia đình theo 8 tiêu chí “5 không, 3 sạch” (không đói nghèo, không vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội, không có bạo lực gia đình, không sinh con thứ ba trở lên, không có trẻ suy dinh dưỡng và bỏ học; sạch nhà, sạch bếp, sạch ngõ) bằng nhiều hình thức phong phú và thiết thực như:

Tập huấn, hướng dẫn

Hội LHPN các cấp đã tổ chức 2.609 cuộc tập huấn, tọa đàm, nói chuyện chuyên đề, hội thi với 182.668 lượt cán bộ, hội viên, phụ nữ tham dự với các nội dung như: xây dựng nông thôn mới, vệ sinh môi trường, những thành tựu 10 năm thực thực Chương trình xây dựng nông thôn mới, bộ tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao, hướng dẫn các tiêu chí Cuộc vận động "Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”, phòng ngừa biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, xây dựng gia đình hạnh phúc, chính sách dân số, phòng, chống bạo lực gia đình, chăm sóc và nuôi, dạy trẻ cho chủ nhóm trẻ, giáo viên và các bà mẹ, người chăm sóc trẻ tại các huyện có khu, cụm công nghiệp, nâng cao kiến thức về phòng chống tệ nạn xã hội, buôn bán phụ nữ, trẻ em, HIV/AIDS, mại dâm, tội phạm, ma tuý...
 
5 khong 3 sach.jpg
Hội Liên hiệp phụ nữ xã Bình Trinh Đông huyện Tân Trụ tuyên truyền về Bảo vệ môi trường và  xây dựng nông thôn mới cho các hội viên

Hội LHPN các cấp đã chủ động phối hợp với các ngành liên quan, tranh thủ các nguồn lực và lồng ghép với các chương trình, đề án của Hội, đã cung cấp, hướng dẫn cho hơn 11.987 bà mẹ, ông bố, gần 4.000 trẻ vị thành niên được tiếp cận các kiến thức và kỹ năng trong tổ chức cuộc sống gia đình; tổ chức 48 lớp tập huấn về kiến thức, kỹ năng truyền thông kiến thức pháp luật phòng chống bạo lực gia đình, nâng cao nhận thức về bình đẳng giới, vai trò, vị trí của người phụ nữ trong gia đình và xã hội với 4.108 đại biểu tham dự.

Hội LHPN các cấp tổ chức 13 cuộc hội thảo về vai trò của Hội LHPN các cấp với công tác phòng, chống bạo lực gia đình, công tác bảo vệ môi trường; công tác Dân số KHHGĐ... có 1.076 đại biểu dự.

Tổ chức đối thoại

Hội LHPN các cấp tổ chức 38 cuộc đối thoại với cán bộ, hội viên, phụ nữ về các chủ đề như: thực hiện Cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”, thực hiện chính sách bảo hiểm y tế toàn dân, chính sách dân số gắn với xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, thực hiện phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”; xây dựng gia đình “No ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”...Qua đó, đã phần nào giải quyết những vấn đề bức xúc của người dân, làm cho người dân hiểu rõ hơn và tham gia tích cực trong thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới.

Hỗ trợ thực hiện các mô hình

Xây dựng 525 bếp ít khói cho hộ gia đình hội viên, phụ nữ nghèo, khó khăn với tổng số tiền 226,6 triệu đồng (tại các huyện Tân Thạnh, Thạnh Hóa, Đức Huệ, Cần Đước, Tân Trụ, Mộc Hóa) và tổ chức hội nghị nhân rộng mô hình trên các địa bàn của huyện. Qua thực tế cho thấy, khi các hộ sử dụng bếp ít khói vừa góp phần bảo vệ môi trường cũng vừa cải thiện sức khỏe cho các thành viên trong gia đình, nhất là phụ nữ và trẻ em trong phòng ngừa các bệnh đường hô hấp, bệnh đau mắt...Đến nay mô hình này nhân rộng được 2.098 hộ đã sử dựng bếp ít khói.

Hội LHPN tỉnh đã hỗ trợ thực hiện các mô hình về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu với tổng kinh phí 278 triệu đồng, cụ thể: hỗ trợ 1.230 cây hoàng yến thực hiện mô hình “Tuyến đường xanh, sạch” (tại Cần Giuộc, Thủ Thừa và thị xã Kiến Tường, Châu Thành); 500 cây sao (tai Đức Huệ, Cần Đước); 700 thùng đựng rác cho 350 hộ dân tham gia mô hình phân loại rác tại nguồn (tại huyện Cần Giuộc, Tân Hưng, Cân Đước) hỗ trợ 20 bồn chứa nước sạch loại 1000ml cho các hộ ở trên cụm tuyến dân cư (tại Tân Thạnh); hỗ trợ 5 xe đẩy tay thu gom và đựng rác công cộng thực hiện mô hình “Thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt hằng ngày” (tại Đức Huệ); hỗ trợ nguyên vật liệu xây 10 hồ ủ rác (tại Tân Trụ); xây dựng 4 hồ xử lý rác sinh hoạt (tại Châu Thành); hỗ trợ kiện toàn 45 nhóm trẻ độc lập tư thục thuộc Đề án “Hỗ trợ, phát triển nhóm trẻ độc lập tư thục ở khu vực khu, cụm công nghiệp”.
 
5 khong 3 sach1.jpg
Bà Nguyễn Thị Kim Cương - Chủ tịch Hội LHPN huyện Cần Đước tặng giỏ rác gia đình cho các hội viên, phụ nữ thực hiện mô hình “3-Thu gom, 2-Xử lý và 2T”

Thành lập nhiều mô hình sáng tạo, hiệu quả như: mô hình “Liên gia tự phòng, tự quản, vừa là hội viên vừa là an ninh viên”, “Tổ phụ nữ 5 không, 3 phòng”, “Tổ phụ nữ không có người tham gia đánh bài”, “Tổ phụ nữ không có con em vi phạm pháp luật”, “Chi hội phụ nữ 5 không, 3 sạch, xây dựng nông thôn mới”, xây dựng 405 địa chỉ tin cậy tại cộng đồng, với 2.250 thành viên; xây dựng 300 câu lạc bộ gia đình hạnh phúc với 9.258 thành viên, 294 câu lạc bộ không sinh con thứ ba với 8.600 thành viên tham gia....Ngoài ra, Hội còn duy trì sinh hoạt định kỳ các câu lạc bộ phụ nữ lồng ghép tuyên truyền. các tiêu chí “5 không, 3 sạch” gắn với tiêu chí xây dựng nông thôn mới, phổ biến văn bản luật,... để nâng cao ý thức, nhận thức của người dân và vai trò của phụ nữ góp phần kiềm chế, đẩy lùi các tệ nạn ma túy, mại dâm, bạo lực gia đình.

Đồng. thời, Hội LHPN các cấp xây dựng 292 công trình mang tên Hội thiết thực góp phần xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh như: trồng cây xanh ven đường trước ngõ; nâng cấp tuyến đường liên xóm; trồng cây xanh; bảo quản tuyến đường xanh, sạch, đẹp, thắp sáng đường giao thông nông thôn; xóa điểm rác thành vườn hoa, sạch ngõ vì một đô thị không rác; nhà sạch, vườn xanh, ngõ đẹp; vận động hiến đất; trồng hoa kiểng khu dân cư; hàng rào xanh-bếp sạch; tổ phụ nữ góp vốn xây nhà vệ sinh tự hoại;....với tổng trị giá trên 25 tỉ đồng.
 
5 khong 3 sach2.jpg
Tuyến đường hoa của Hội phụ nữ ấp Bình Tây, xã Bình Trinh Đông, Tân Trụ

Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế

Hàng năm, Hội LHPN cơ sở phối hợp các ngành liên quan rà soát danh sách hộ nghèo, xác định nguyên nhân, xây dựng kế hoạch giúp các hộ tiếp cận các chương trình hỗ trợ thông qua nhiều hình thức như: hỗ trợ vốn từ Ngân hàng Chính sách Xã hội với tổng dư nợ trên 1.347 tỷ đồng, nguồn vốn từ mô hình tiết kiệm tín dụng, góp vốn xoay vòng là 81 tỷ đồng; phối hợp các ngành liên quan hỗ trợ thành lập 12 hợp tác xã có nữ tham gia Ban quản lý (trong đó Hội hỗ trợ thành lập 01 hợp tác xã); thành lập 332 tổ liên kết sản xuất, 94 tổ hợp tác; giúp cho 828 phụ nữ khởi sự kinh doanh; 16 ý tưởng khởi nghiệp. Kết quả, hàng năm, Hội LHPN các cấp giúp trên 15% hộ nghèo do phụ nữ làm chủ thoát nghèo.
 
5 khong 3 sach3.jpg
Hội viên ấp 2 xã Tân Thành, huyện Tân Thạnh tham gia mô hình đan giỏ nhựa lúc nông nhàn góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống

Công tác an sinh xã hội luôn được Hội LHPN các cấp quan tâm thực hiện, trong thời gian qua đã vận động hỗ trợ mái ấm tình thương được 821 mái ấm, số tiền 29 tỷ đồng, 1.290 suất học bỗng, số tiền 1.357.500 ngàn đồng, 90 chiếc xe lăn với số tiền 279 triệu đồng, 60 chiếc xe đạp số tiền 90 triệu đồng, ngoài ra, còn vận động tiền, quà giúp cho phụ nữ nghèo, khó khăn số tiền trên 20 tỷ đồng.
Công tác hướng nghiệp, đào tạo nghề và giới thiệu việc làm ngày càng được các cấp Hội chú trọng và đạt được kết quả cao. Hội chủ động phối hợp với ngành có liên quan tổ chức dạy nghề cho 27.142 lao động nữ (có việc làm sau đào tạo là 21.244 lao động nữ) và giới việc việc làm cho 170.694 lao động nữ làm việc tại các công ty trong và ngoài tỉnh.

Từ những hoạt động trên, đến nay Hội LHPN các cấp đã giúp 226.161 hộ đạt 8 tiêu chí cuộc vận động và giúp được 5.682 hộ nghèo do phụ nữ làm chủ thoát nghèo.

Phương hướng nhiệm vụ thực hiện trong thời gian tới

Để tiếp tục thực hiện tốt Cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch” gắn với xây dựng NTM, giai đoạn sau 2020, Hội LHPN tỉnh tiếp tục thực hiện tốt một số nhiệm vụ gồm: 

Một là: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến và vận động cán bộ, hội viên, phụ nữ, người dân nắm vững các chủ trương, chính sách về xây dựng nông thôn mới để chủ động và tự giác tham gia.

Hai là: Xây dựng kế hoạch thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn sau 2020. Tăng cường: phối hợp các tổ chức, các ngành và khai thác các nguồn kinh phí đề tiếp tục triển khai thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ về thực hiện Cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch” và các nhiệm vụ khác của Hội gắn với phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh. 

Ba là: Cụ thể hóa đưa một số nội dung vào thang điểm thi đua hàng năm đề Hội LHPN các cấp triền khai thực hiện: phấn đấu 100% cơ sở Hội đăng ký với cấp ủy, chính quyền thực hiện ít nhất 01 hoạt động thiệt thực, phù hợp tham gia xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; giúp thêm ít nhất 3 hộ gia đình đạt các tiêu chí gia đình 5 không, 3 sạch, trong đó có ít nhất 01 hộ thoát nghèo; xây dựng chi hội 5 không, 3 sạch xây dựng nông thôn mới.

Bốn là: Duy trì và nhân rộng mô hình có hiệu quả về xây dựng nông thôn mới, nhất là các mô hình: chỉ hội 5 không, 3 sạch xây dựng nông thôn mới, hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững, bảo vệ môi trường, chăm sóc và bảo vệ phụ nữ và trẻ em, xây dựng gia đình hạnh phúc, bình đẳng giới./.

Anh Nhung
Chi cục PTNT và Thủy lợi

10/09/2019 10:00 SAĐã ban hành
​  Đào tạo nghề cho lao động nông thôn, chủ trương đúng đắn giải quyết nhu cầu việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân góp phần thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới​  Đào tạo nghề cho lao động nông thôn, chủ trương đúng đắn giải quyết nhu cầu việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân góp phần thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới

Đến nay, tỉnh Long An đã có 77/166 xã đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm 46,4% tổng số xã toàn tỉnh. Số tiêu chí đạt bình quân/xã đạt 15,5 tiêu chí/xã. Thu nhập bình quân đầu khu vực nông thôn năm 2018 đạt 45 triệu đồng/người/năm.

Long An là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với vị trí địa lý là cửa ngõ nối liền Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Tây Nam bộ, tiếp giáp Vương quốc Campuchia với 132,77 km đường biên giới. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 như hiện nay đã đặt nhiệm vụ cho công tác đào tạo nghề là cung cấp đủ nguồn nhân lực có chất lượng, tay nghề cao cho thị trường sử dụng lao động. Việc tập trung phát triển nguồn nhân lực, chuyển dịch cơ cấu lao động, tái cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp gắn với quy hoạch xây dựng nông thôn mới được xem là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa mang tính chiến lược lâu dài của các cấp, các ngành và nhân dân trong tỉnh. 

Thực hiện Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 490/QD-UBND ngày 14/02/2011 về Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 của tỉnh Long An”. Ban thường vụ Tỉnh ủy ban hành Chỉ thị số 47-CT/TU ngày 12/6/2013 về việc thực hiện Chỉ thị số 19-CT/TW ngày 05/11/2012 của Ban Bí thư về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dạy nghề cho lao động nông thôn”. Hàng năm, tỉnh đều ban hành Kế hoạch và nhiều văn bản chỉ đạo, điều hành, triển khai công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh.

Những kết quả đạt được

Sau 10 năm triển khai thực hiện Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đến nay trên địa bàn tỉnh hiện có 53.896 lao động nông thôn được hỗ trợ học nghề, tốt nghiệp 49.937 người, đạt 92,65%. Trong đó 45.269 người có việc làm sau học nghề, đạt 83,99% (so với lao động nông thôn được học nghề), vượt mục tiêu Đề án đặt ra (giai đoạn 2010-2015 tỷ lệ có việc làm sau học nghề đạt trên 70%, giai đoạn 2016-2020 tỷ lệ có việc làm sau học nghề đạt trên 80%). Lao động nông thôn được đào tạo thuộc 02 lĩnh vực: Lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp.

Trong  53.896 lao động nông thôn được hỗ trợ học nghề thì có 845 người thuộc hộ nghèo tham gia học nghề, có việc làm đã thoát nghèo, chiếm 19,45% tổng số người thuộc hộ nghèo tham gia học nghề; 2.668 người tham gia học nghề, có việc làm, có thu nhập cao hơn mức bình quân tại địa phương (trở thành hộ khá), chiếm 4,95% tổng số lao động tham gia học nghề.
 
dao tao nghe nhung.jpg
Nông dân huyện Châu Thành áp dung Kỹ thuật trồng thanh long theo VietGAP mang lại lợi nhuận cao

Để nâng cao chất lượng đào tạo, thời gian qua tỉnh Long An đã tổ chức 04 kỳ Hội thi thiết bị đào tạo tự làm cấp tỉnh. Tại ba kỳ hội thi trước (tổ chức vào các năm 2010, 2013 và 2016), tuyển chọn được các mô hình, thiết bị tham dự Hội thi cấp toàn quốc được xếp giải: Năm 2010 đạt 04 giải khuyến khích; năm 2013 đạt 02 giải ba và 03 giải khuyến khích; năm 2016 đạt 01 giải nhất, 02 giải ba và 06 giải khuyến khích. Các mô hình, thiết bị dự thi được sử dụng trong giảng dạy, học tập đã phát huy hiệu quả tích cực trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, góp phần giảm áp lực đầu tư thiết bị ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Tại hội thi thiết bị đào tạo tự làm cấp tỉnh năm 2019, tỉnh đã tuyển chọn 6 mô hình (chiết rót - đóng nắp; dây chuyền máy trộn sơn; hệ thống phun dầu điện tử Commonrail Huyndai Santa Fe D4EA; sấy thực phẩm sử dụng bơm nhiệt kết hợp hồng ngoại; Thực tập khí nén; Sửa chữa mát tính, máy in) tham dự Hội thi thiết bị đào tạo tự làm cấp quốc gia lần thứ VI, năm 2019.

Đặc biệt việc thực hiện các mô hình điển hình trong đào tạo nghề cho lao động nông thôn đã thực sự mang lại hiệu quả cụ thể như: 
Mô hình đào tạo nghề “nuôi cá lóc trong vèo” tại xã Thái Bình Trung, huyện Vĩnh Hưng do Trạm Khuyến ngư vùng Đồng Tháp Mười thuộc Trung tâm Thủy sản tỉnh phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội và UBND xã Thái Bình Trung, huyện Vĩnh Hưng thực hiện năm 2011. Qua tham gia lớp học các học viên đã nắm vững được kiến thức và vận dụng thành thạo kỹ thuật nuôi, các biện pháp phòng trị bệnh cho cá lóc vào thực tế sản xuất, tỷ lệ sống của cá đạt 75% (theo cách nuôi cũ tỷ lệ sống của cá chỉ đạt 50%) và năng suất tăng thêm 100 kg/m3 góp phần tăng thu nhập ổn định cuộc sống cho bà con nông dân. Tuy nhiên, mô hình phải sử dụng thức ăn là cá nhỏ đã ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản nên không được triển khai nhân rộng.

 Mô hình đào tạo nghề “kỹ thuật trồng nấm rơm” cho lao động nông thôn triển khai năm 2014 do Trường Cao đẳng nghề Long An - Cơ sở Đồng Tháp Mười phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, phòng Kinh tế thị xã Kiến Tường thực hiện tại xã Bình Hiệp; Trung tâm Dạy nghề Đức Huệ phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Đức Huệ thực hiện tại xã Mỹ Thạnh Bắc. Sau khi tốt nghiệp nhiều học viên đã tổ chức sản xuất nấm rơm tại hộ gia đình thu được lợi nhuận, góp phần tăng thu nhập cải thiện đời sống, cung cấp thêm nguồn phân hữu cơ cho một số loại cây trồng và giải quyết thời gian nông nhàn của lao động ở nông thôn. Mô hình dễ áp dụng, kinh phí đầu tư thấp, thời gian thu hồi vốn nhanh và đạt hiệu quả kinh tế tương đối cao và hiện nay đang nhân rộng ở các địa phương phù hợp trong tỉnh.

dao tao nghe nhung1.jpg 
Học viên học nghề trồng nấm rơm 
(lớp tại xã Bình Hiệp, thị xã Kiến Tường)

Các mô hình đào tạo nghề nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao như: Kỹ thuật trồng lúa theo Vietgap (xã Hưng Thạnh, huyện Tân Hưng), Kỹ thuật nuôi và phòng trị bệnh cho trâu, bò (xã Mỹ Quý Đông, huyện Đức Huệ), Kỹ thuật trồng rau an toàn (xã Lợi Bình Nhơn và phường Khánh Hậu, thành phố Tân An) và Kỹ thuật trồng thanh long theo Vietgap (xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ) năm 2017 hiện đang triển khai nhân rộng ở các địa bàn phù hợp của tỉnh.

Các nghề phi nông nghiệp triển khai có hiệu quả như: Nghề hàn, cắt gọt kim loại, sửa chữa thiết bị may, may công nghiệp, điện công nghiệp ở các huyện: Đức Hòa, Bến Lức, Cần Đước, Cần Giuộc; nghề may công nghiệp, sửa chữa động cơ nổ ở các huyện Đức Huệ, Tân Thạnh, thị xã Kiến Tường... cho lực lượng thanh niên nông thôn học nghề tự tạo việc làm, vào làm việc doanh nghiệp; nghề đan giỏ nhựa ở huyện Cần Đước, Tân Thạnh, Đức Huệ, nghề làm hoa vải ở thành phố Tân An và huyện Tân Trụ... cho lao động nữ gia công tại hộ gia đình; Các nghề nông nghiệp hiệu quả ở địa phương như: Kỹ thuật trồng thanh long theo VietGAP ở huyện Châu Thành, huyện Tân Trụ; kỹ thuật trồng chanh ở huyện Bến Lức; kỹ thuật trồng nấm rơm ở thị xã Kiến Tường, huyện Đức Huệ; kỹ thuật trồng rau an toàn ở huyện Cần Đước, Cần Giuộc; kỹ thuật chăn nôi bò thịt ở huyện Đức Hoà, Đức Huệ...

dao tao nghe nhung2.jpg 
Học viên học lớp Kỷ thuật chăn nuôi bò thịt 
(lớp tại xã An Ninh Tây huyện Đức Hòa)

Bên cạnh đó, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh đã tổ chức đào tạo nghề chằm nón lá ở xã Lộc Giang, huyện Đức Hòa và nghề may giỏ xách tại xã Phước Vân, huyện Cần Đước và thành lập 02 tổ liên kết hoạt động hiệu quả từ nguồn hỗ trợ của Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.

Có thể nói, qua 10 năm triển khai thực hiện Đề án, được sự hướng dẫn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, sự quyết tâm triển khai của các cấp ủy, chính quyền địa phương, sự tham gia tích cực của các tổ chức đoàn thể và cơ sở giáo dục nghề nghiệp nên các nội dung hoạt động của Đề án đã được triển khai đồng bộ và hiệu quả, từ việc điều tra, khảo sát nhu cầu học nghề, xác định nghề cần đào tạo, đến việc tổ chức đào tạo nghề gắn với phát triển nguồn nhân lực nông thôn tại địa phương, góp phần giảm nghèo bền vững, nâng cao mức sống, phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn và xây dựng nông thôn mới.

Với kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ năm 2010 đến nay đã góp phần đưa tiêu chí tỷ lệ lao động có việc làm qua đào tạo của tỉnh Long An đạt chỉ tiêu UBND tỉnh đề ra, cụ thể: Năm 2016 là 62,86/62%; năm 2017 là 65,68/65%; năm 2018 là 67,56/67%; dự kiến tỷ lệ lao động qua đào tạo giai đoạn 2019-2020 là 70%.

Việc đào tạo nghề đã chú trọng gắn với việc làm sau đào tạo, gắn với doanh nghiệp, hợp tác xã, gắn với thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp và với phát triển nông nghiệp công nghệ cao của tỉnh.

Giải pháp trong thời gian tới

Để tiếp tục thực hiện Đề án ”Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” góp phần nâng cao tiêu chí Giáo dục và Đào tạo trong xây dựng nông thôn mới. Theo UBND tỉnh Long An, trong thời gian tới, cần chỉ đạo và triển khai thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm sau:
Một là: Tiếp tục đẩy mạnh công tác quán triệt, tuyên truyền, phổ biến Chỉ thị số 19-CT/TW ngày 05/11/2012 của Ban Bí thư về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dạy nghề cho lao động nông thôn”, Chỉ thị số 47-CT/TU ngày 12/6/2013 Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thực hiện Chỉ thị số 19-CT/TW của Ban Bí thư và các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về giáo dục nghề nghiệp, công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp về vị trí chiến lược của nông nghiệp, nông dân, nông thôn và vai trò, tầm quan trọng của đào tạo nghề trong việc nâng cao chất lượng lao động nông thôn, tăng năng suất, hiệu quả sản xuất, góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động. Các cơ quan phát thanh, truyền hình, báo, đài của địa phương xây dựng, duy trì, cập nhật các chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền về đào tạo nghề, tạo việc làm đối với lao động nông thôn, trong đó chú trọng tuyên truyền những mô hình đào tạo nghề gắn giải quyết việc làm, giảm nghèo có hiệu quả, qua đó động viên lao động tham gia học nghề.

Hai là: Thường xuyên kiện toàn và nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo thực hiện Quyết định số 1956/QĐ-TTg cấp tỉnh, huyện và Tổ Chỉ đạo cấp xã. Rà soát, bổ sung, điều chỉnh quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo các cấp, bảo đảm giữ vững mối quan hệ chặt chẽ, hiệu quả giữa các thành viên.

Ba là: Xây dựng và triển khai kế hoạch đào tạo nghề cho lao động nông thôn  trên cơ sở điều tra, khảo sát nhu cầu học nghề của lao động nông thôn, nhu cầu tuyển dụng lao động của doanh nghiệp và xã hội, yêu cầu về chuyển dịch cơ cấu lao động, nhiệm vụ phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới để đảm bảo chất lượng và hiệu quả, không chạy theo số lượng. Quán triệt và thực hiện tốt phương châm “không tổ chức đào tạo nghề khi chưa dự báo được nơi làm việc và mức thu nhập của lao động sau học nghề”. Tập trung đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn đáp ứng yêu cầu lao động của các cơ sở công nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ, xuất khẩu lao động và chuyển đổi nghề; đào tạo nghề cho bộ phận nông dân trực tiếp sản xuất nông nghiệp để thực hành sản xuất nông nghiệp tiên tiến, hiện đại. 

Bốn là: Tổ chức rà soát danh mục nghề đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 3 tháng cho lao động nông thôn để cập nhật, bổ sung, điều chỉnh phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp, thị trường lao động, phù hợp với quy hoạch xây dựng nông thôn mới, đáp ứng nhiệm vụ phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp và giảm nghèo bền vững. 

Năm là: Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (hoặc phòng Kinh tế) với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, UBND xã và doanh nghiệp trong việc xác định nhu cầu đào tạo, tư vấn, tổ chức đào tạo nghề, hỗ trợ chi phí đào tạo gắn với giải quyết việc làm ổn định cho lao động nông thôn sau học nghề.

Sáu là: Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tập trung đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, rà soát điều chỉnh chương trình, giáo trình đào tạo đúng theo quy định, sát thực tiễn để nâng cao chất lượng đào tạo nghề. Tổ chức đào tạo nghề thông qua nhiều hình thức linh hoạt, phù hợp. Bên cạnh việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng thực hành nghề cần chú trọng bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng mềm về an toàn lao động, kiến thức kinh doanh và khởi sự doanh nghiệp cho lao động nông thôn để đảm bảo hiệu quả của việc dạy và học nghề.

Bảy là:  Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ công vụ góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức xã. Đào tạo, bồi dưỡng phải căn cứ vào vị trí việc làm, đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài, đảm bảo tiêu chuẩn của ngạch công chức cấp xã.

Tám là: Tăng cường kiểm tra, giám sát công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Ban chỉ đạo các cấp thường xuyên theo dõi, đôn đốc các thành viên Ban Chỉ đạo nâng cao tinh thần trách nhiệm, hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công, tăng cường phối hợp, đi cơ sở hỗ trợ địa phương kịp thời tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Chín là:  Đề nghị Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức đoàn thể các cấp tiếp tục phối hợp với các cơ quan nhà nước trong việc thông tin, tuyên truyền, tư vấn, vận động hội viên, đoàn viên tham gia công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn với hình thức phù hợp. Phối hợp tham gia kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện Đề án.

Anh Nhung
Chi cục PTNT và THủy lợi

09/09/2019 11:00 SAĐã ban hành
Ban hành Bộ Tiêu chí đánh giá, phân hạng sản phẩm Chương trình mỗi xã một sản phẩmBan hành Bộ Tiêu chí đánh giá, phân hạng sản phẩm Chương trình mỗi xã một sản phẩm

Ngày 21/8/2019, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ ký ban hành Quyết định số 1048/QĐ-TTg về việc ban hành Bộ Tiêu chí đánh giá, phân hạng sản phẩm Chương trình mỗi xã một sản phẩm (tên tiếng Anh là One Commune One Product - OCOP, gọi tắt là Chương trình OCOP), gọi chung là Bộ Tiêu chí OCOP.

ocop luan.jpg
Sản phẩm Rượu chanh Khắp Phượng của HTX Thuận Bình

Bộ Tiêu chí OCOP là căn cứ để đánh giá, phân hạng sản phẩm tham gia Chương trình mỗi xã một sản phẩm, được điều chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước và từng thời kỳ.

Các sản phẩm tham gia Chương trình OCOP gồm 6 ngành hàng: Thực phẩm; đồ uống; thảo dược; vải và may mặc; lưu niệm - nội thất - trang trí và dịch vụ du lịch nông thôn, bán hàng. Theo đó, bộ Tiêu chí của sản phẩm gồm có 3 phần:

- Phần A: Các tiêu chính đánh giá về sản phẩm và sức mạnh cộng đồng (35 điểm), gồm: Tổ chức sản xuất; phát triển sản phẩm; sức mạnh cộng đồng.

- Phần B: Các tiêu chí đánh giá về khả năng tiếp thị (25 điểm), gồm: Tiếp thị, câu chuyện về sản phẩm.

- Phần C: Các tiêu chí đánh giá về chất lượng sản phẩm (40 điểm), gồm: Chỉ tiêu cảm quan, dinh dưỡng, tính độc đáo của sản phẩm; tiêu chuẩn sản phẩm; khả năng xuất khẩu, phân phối tại thị trường quốc tế.

ocop luan1.jpg
Trà Chùm ngây của Cơ sở sản xuất Vườn Nhà Minh

Việc phân hạng sản phẩm Chương trình OCOP căn cứ vào kết quả đánh giá sản phẩm theo Bộ Tiêu chí nêu trên. Tổng điểm đánh giá cho mỗi sản phẩm tối đa là 100 điểm và được phân thành 5 hạng. Cụ thể, hạng 5 sao có tổng điểm trung bình đạt từ 90-100 điểm, là sản phẩm cấp quốc gia, có thể xuất khẩu; hạng 4 sao có tổng điểm trung bình đạt từ 70-89 điểm, là sản phẩm cấp tỉnh, có thể nâng cấp lên hạng 5 sao; hạng 3 sao có tổng điểm trung bình đạt từ 50-69 điểm, là sản phẩm cấp tỉnh, đạt tiêu chuẩn, có thể nâng cấp lên hạng 4 sao; hạng 2 sao có tổng điểm trung bình đạt từ 30-49 điểm, sản phẩm chưa đạt tiêu chuẩn, có thể tiếp tục nâng cấp để nâng lên hạng 3 sao; hạng 1 sao có tổng điểm trung bình đạt dưới 30 điểm, là sản phẩm khởi điểm tham gia Chương trình OCOP, có thể nâng cấp lên hạng 2 sao.

Về quy trình đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP, công tác đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP được chia làm 3 cấp: Cấp huyện, cấp tỉnh và cấp trung ương. Giấy chứng nhận cho các sản phẩm OCOP đạt từ 3-5 sao có giá trị trong thời hạn 36 tháng kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền ban hành.

ocop luan2.jpg
Đậu phộng rang Hữu Lộc

Cũng tại Quyết định này, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với các Bộ: Công Thương, Khoa học và Công nghệ, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Y tế, các bộ, ngành liên quan và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hướng dẫn và triển khai thực hiện.

Riêng đối với các địa phương đã ban hành Bộ tiêu chí OCOP và tổ chức đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP cấp tỉnh thì kết quả đánh giá, phân hạng đó được bảo lưu đến hết ngày 31/12/2019.

Diệp Luân
Chi cục Phát triển nông thôn và Thủy lợi

 



 


 


06/09/2019 11:00 SAĐã ban hành
Thạnh Hóa: Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội sau 10 năm xây dựng nông thôn mớiThạnh Hóa: Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội sau 10 năm xây dựng nông thôn mới

Thạnh Hóa là huyện thuộc vùng Đồng Tháp Mười của tỉnh Long An và có vị trí là huyện cửa ngõ của vùng Đồng Tháp Mười. Toàn huyện có 10/10 xã  tham gia thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) xây dựng nông thôn mới (NTM), trong đó có 02 xã biên giới (xã Tân Hiệp và Thuận Bình); 02 xã thuộc diện khó khăn của tỉnh trong xây dựng NTM (xã Thạnh Phú và Thạnh An).
 
thanh hoa ket cau ntm 2019.jpg
Ông Nguyễn Văn Tạo-CT.UBND huyện Thạnh Hóa (thứ 4 từ trái qua) trao Giấy khen của huyện
cho các tập thể, cá nhân tiêu biểu trong 10 năm thực hiện xây dựng NTM

 Qua 10 năm thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM, với sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, quyết liệt và việc tổ chức triển khai thực hiện đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với điều kiện thực tế của từng xã, nên huyện Thạnh Hóa đã cơ bản đạt được những mục tiêu xây dựng NTM đã đề ra. Toàn toàn huyện đã có 03 xã được công nhận đạt chuẩn NTM (dự kiến đến cuối năm 2020 có thêm 2 xã đạt, nâng tổng số xã đạt chuẩn NTM lên 5 xã, chiếm 50% số xã toàn huyện), bình quân mỗi xã đạt 15 tiêu chí (năm 2010 chỉ đạt 5,9 tiêu chí), diện mạo khu vực nông thôn đã có nhiều đổi mới, đời sống vật chất tinh thần của người dân nông thôn được cải thiện rõ rệt.
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư đồng bộ là điểm nhấn của huyện Thạnh Hóa trong 10 năm xây dựng NTM, điều này không chỉ đem lại cho khu vực nông thôn của huyện Thạnh Hóa một diện mạo mới, mà còn là điều kiện quan trọng để thúc đẩy phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân, nhất là những xã được công nhận đạt chuẩn NTM. Về đường giao thông: 42% số km đường trục xã đã được trải nhựa, bêtông xi măng (79 km/184 km); 53% số km đường trục ấp đã được trải nhựa, bê tông xi măng (131 km/247 km); 34% so km đường trục chính nội đồng được cứng hóa (62 km/180 km); 56% số km đường ngõ xóm được cứng hóa ( 96 km/171 km) và đặc biệt 10/10 xã đã có đường ô tô đến trung tâm (năm 2011, toàn huyện mới chỉ có 7 xã có đường ô tô đến trung tâm, còn 3 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm).

thanh hoa ket cau ntm 20191.jpg 
Đường giao thông cặp kênh 24 - đường trục xã Thủy Đông đã được đầu tư trải nhựa

Song song với phát triển đồng bộ hệ thống đường giao thông (đường tỉnh, huyện, xã và đường ấp), huyện Thạnh Hóa đã ưu tiên đầu tư cải tạo, nâng cấp 124 tuyến kênh với tổng chiều dài 527 km, việc đầu tư các tuyến kênh đảm bảo sự đồng bộ từ kênh đầu mối, kênh tạo nguồn đến kênh nội động. Ngoài ra, với hình thức “Nhà nước và nhân dân cùng làm” đã có hàng trăm km đê bao bảo vệ sản xuất (đê bao lửng, đê bao triệt để) được đầu tư mới, cải tạo, nâng cấp. Do đó, đã có trên 80% diện tích đất sản xuất nông nghiệp của huyện được tưới, tiêu chủ động. 

Hệ thống điện đã được đầu tư phủ khắp toàn huyện với 294,1 km đường dây trung áp, 219,9 km đường dây hạ áp, do đó 100% hộ dân (13.154 hộ) đã được sử điện lưới quốc gia. Mạng lưới trường học được tăng cường đầu tư theo hướng đạt chuẩn quốc gia, toàn huyện đã có 16/32 trường học đạt chuẩn quốc gia. Các thiết chế văn hóa thể thao được đầu tư đáp ứng nhu cầu thực chất của người dân, toàn bộ 10 xã đã xây dựng Trung tâm Văn hóa - Thể thao và Học tập cộng đồng, 37/44 ấp đã có nhà văn hóa-khu thể thao (11 nhà văn hóa kiên cố, 26 nhà văn hóa bán kiên cố). 

Cơ sở vật chất thông tin và truyền thông không ngừng phát triển, toàn bộ 10/10 Điểm Bưu điện văn hóa xã được duy trì hoạt động tốt; 10/10 xã đều có Đài truyền thanh xã, với 99 cụm loa được bố trí dải đều trên các ấp, đảm bảo thông tin kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước đến với người dân nông thôn. Trong quản lý, điều hành 100% các xã đã sử dụng hiệu quả phần mềm quản lý văn bản và phần mềm một của điện tử, tạo điều kiện thuận lợi nhất trong việc giải quyết các thủ tục hành chính cho các tổ chức và người dân. Toàn huyện đã có 77,6% số căn nhà ở (10.109 căn) được xây dựng đạt chuẩn theo quy định của Bộ Xây dựng.
 
thanh hoa ket cau ntm 20192.jpg
Trường THCS Thủy Đông đã được công nhận đạt chuẩn quốc gia

Để có được nguồn lực đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, trong những năm qua, huyện Thạnh Hóa đã tập trung tuyên truyền thường xuyên, liên tục về các chủ trương, chính sách, cũng như trách nhiệm của người dân trong xây dựng NTM bằng nhiều hình thức, như: Đã tổ chức 07 hội thi, hội diễn văn nghệ tìm hiểu Chương trình MTGQ xây dựng NTM với hơn 500 lượt người tham gia thi và trên 1.200 lượt người xem và cỗ vũ cho hội thi; tổ chức tuyên truyền trong các tổ chức đoàn thể trên 900 cuộc, với trên 48.000 lượt người tham dự; xây dựng, lắp đặt 250 pano, 170 khẩu hiệu tuyên truyền tại các trục giao thông nông thôn cho 10/10 xã…qua đó được người dân đồng tình hưởng ứng, tự nguyện đóng góp tiền của, công sức, đất đai để cùng chung sức xây dựng NTM. Từ năm 2011-2019, toàn huyện đã huy động được 579,3 tỷ đồng tham gia thực hiện xây dựng NTM, trong đó: Huy động từ người dân 303,5 tỷ đồng (gồm: Góp đất, tiền để xây dựng hạ tầng; xây mới, nâng cấp, sửa chữa nhà ở), chiếm 52,4%; huy động từ doanh nghiệp 205,5 tỷ đồng, chiếm 35,5 %; vốn ngân sách nhà nước (Trung ương, tỉnh, huyện, xã) 70,3 tỷ đồng, chiếm 12,1%.

Với những kết quả đã đạt được trong xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020, nhất là sự thay đổi từ nhận thức đến hành động trong cả hệ thống chính trị, trong từng cộng đồng dân cư, từng hộ gia đình và từng người dân sẽ là nền tảng quan trọng để huyện Thạnh Hóa tiếp tục đạt và vượt các chỉ tiêu xây dựng NTM đến năm 2025 và năm 2030 đề ra, đó là: 

Mục tiêu đến năm 2025: (1) Phấn đấu có 80% số xã đạt chuẩn NTM, trong đó có 20% số xã đạt chuẩn NTM nâng cao; (2) Không còn xã dưới 15 tiêu chí (theo bộ tiêu chí giai đoạn 2020-2025); (3) Thu nhập bình quân đầu người/năm so năm 2020 tăng 1,8 lần, tỷ lệ hộ nghèo từ 2% trở xuống, tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế từ 95% trở lên, tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước sạch từ 70% trở lên.

Mục tiêu đến năm 2030: (1) Phấn đấu có 100% số xã đạt chuẩn NTM, trong đó có 50% xã đạt chuẩn NTM nâng cao; (2) Thu nhập bình quân đầu người/năm so năm 2025 tăng 1.8 lần, tỷ lệ hộ nghèo từ 1% trở xuống, tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế từ 95% trở lên, tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước sạch từ 95% trở lên.

 Nguyễn Sỹ Xương
Văn phòng Điều phối NTM tỉnh

06/09/2019 10:00 SAĐã ban hành
​  Huyện Vĩnh Hưng-Phấn đấu đạt các chỉ tiêu nông thôn mới đến năm 2020 và  định hướng đến năm 2030​  Huyện Vĩnh Hưng-Phấn đấu đạt các chỉ tiêu nông thôn mới đến năm 2020 và  định hướng đến năm 2030

Huyện Vĩnh Hưng nằm ở phía Tây bắc của tỉnh Long An, thuộc vùng  Đồng Tháp Mười của tỉnh. Vĩnh Hưng có tuyến biên giới giáp Campuchia  được xem là vô cùng quan trọng trong việc xây dựng kinh tế kết hợp với củng cố quốc phòng. Toàn huyện có 1 thị trấn Vĩnh Hưng và 9 xã. 

Xác định xây dựng nông thôn mới (NTM) là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, nhằm mục tiêu đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, tạo ra sự chuyển biến trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân cư nông thôn. Ngay từ khi mới triển khai, Huyện ủy, Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) huyện đã chỉ đạo huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc và cụ thể hóa bằng các Nghị quyết, Quyết định, Chương trình, Kế hoạch; Tập trung chỉ đạo quyết liệt và có nhiều đổi mới, sáng tạo, tìm ra cách làm mới, đột phá. UBND huyện chỉ đạo các ngành, các cấp tập trung hướng dẫn, kiểm tra các địa phương thực hiện. Mặt trận tổ quốc, các tổ chức Đoàn thể huyện cùng các ngành tích cực hưởng ứng và phát động nhiều phong trào thi đua thiết thực.
 
NTM vinh hung 2019.jpg
Ông Trần Văn Cường-PCT UBND huyện phát biểu tại Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình MTQG XDNTM huyện

Kết quả sau 10 năm thực hiện Chương trình XDNTM

Sau 10 năm triển khai thực hiện, Chương trình XDNTM trên địa bàn huyện đã đạt được nhiều kết quả tích cực, trong đó quan trọng nhất là đã tạo sự chuyển biến lớn trong nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trong chỉ đạo cũng như thực hiện chương trình, xác định rõ người dân là chủ thể trong xây dựng nông thôn mới. Những kết quả đạt được của Chương trình đã tạo thêm niềm tin của Nhân dân với Đảng, chính quyền, mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc. Chương trình XDNTM đã thực sự trở thành phong trào thi đua sôi nổi, rộng khắp trên địa bàn huyện và được minh chứng bằng rất nhiều tấm gương hiến đất, đóng góp nhân lực, vật lực,… để cùng chung sức xây dựng NTM.
 
NTM vinh hung 20191.jpg
Khen thưởng các tập thể và cá nhân có thành tích đóng góp trong xây dựng NTM

Trong lĩnh vực sản xuất, huyện đã tập trung phát triển đa dạng các hình thức sản xuất, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực ở nông thôn; kinh tế tập thể, Hợp tác xã (HTX), Tổ hợp tác (THT) được thành lập và cũng cố kịp thời. Đã chỉ đạo có hiệu quả một số cơ chế chính sách phát triển nông nghiệp.  Một số Đề án trên lĩnh vực kinh tế đã được huyện triển khai bước đầu có hiệu quả nhất định. Với sự quan tâm từ Trung ương, tỉnh, ngân sách huyện và huy động các nguồn lực hỗ trợ khác, huyện đã xây dựng nhiều công trình trọng điểm, nhiều tuyến đường giao thông nông thôn, giao thông nội đồng; một số công trình bức xúc cũng được xây dựng. Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội huyện từng bước được cũng cố, nhất là điện, thủy lợi, giáo dục, y tế, thiết chế văn hóa ấp từ đó góp phần thay đổi bộ mặt cảnh quan, diện mạo nông thôn ngày càng xanh, sạch, đẹp.
 
NTM vinh hung 20192.jpg
Trường Trung học cơ sở Tuyên Bình được xây dựng khang trang

Văn hóa xã hội có những bước chuyển biến tích cực. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa dần đi vào chiều sâu. Thu nhập bình quân đầu người đạt 45 triệu đồng/người/năm (tăng 9 triệu đồng so với năm 2010) tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể, năm 2019 tỷ lệ hộ nghèo còn 2,79%. Chất lượng y tế, giáo dục ngày càng được nâng lên. Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân ngày càng được chú trọng đến nay đã có 5/9 xã đạt chuẩn (theo chuẩn mới). Hệ thống chính trị ở cơ sở từng bước được cũng cố, tăng cường; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Các tiêu chí nông thôn mới đều giữ vững và có tăng lên  hàng năm. Hiện nay, trên địa bàn huyện có 02 xã đạt chuẩn nông thôn mới, 01 xã đạt 18/19 tiêu chí, 06 xã đạt từ 11-15 tiêu chí; Tiêu chí bình quân đạt 15 tiêu chí/xã (tăng 10 tiêu chí/xã so với năm 2010).
 
NTM vinh hung 20193.jpg
Trường Mẫu giáo Vĩnh Thuận được đầu tư nâng cấp

Tuy nhiên, trong thời gian qua, việc triển khai thực hiện Chương trình XDNTM của huyện còn một số tồn tại, hạn chế như: Nhận thức của một bộ phận cán bộ, người dân về xây dựng NTM chưa đầy đủ, còn tư tưởng trông chờ, chưa xác định rõ vai trò chủ thể trong xây dựng nông thôn mới. Nguồn lực thực hiện Chương trình còn hạn chế, Doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chưa nhiều. Một số nơi chưa thật coi trọng việc phát triển sản xuất, chưa có nhiều mô hình phát triển sản xuất để học tập. Cấp ủy chính quyền ở một số địa phương còn lúng túng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo. Ở nhiều xã, ấp, vai trò trách nhiệm, tính chủ động, tích cực của cấp ủy chính quyền nhất là vai trò lãnh đạo của Chi ủy, Chi bộ và điều hành của trưởng ấp chưa được phát huy, chưa tạo được sự đồng lòng, đồng sức của nhân dân, chưa thực hiện tốt phương châm “Dân bàn, dân làm, dân hưởng ”.

​Các chỉ tiêu và giải pháp cần tập trung thực hiện năm 2020 và đến 2030

Phấn đấu đến cuối năm 2020 huyện có 5/9 xã đạt nông thôn mới, số tiêu chí bình quân đạt 17 tiêu chí/xã; Đến năm 2025, huyện có 7/9 xã đạt tiêu chí nông thôn mới, 01 xã nông thôn mới nâng cao; Đến năm 2030, huyện có 9/9 xã đạt nông thôn mới và 03 xã đạt xã nông thôn mới nâng cao.

Để đạt các mục tiêu, chỉ tiêu đề ra, trong thời gian tới huyện Vĩnh Hưng tập trung thực hiện các giải pháp sau:

Một là, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động và phải xem đây là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục và kiên trì của các ngành, các cấp. Các ngành, các xã có hình thức tổng kết, biểu dương; đồng thời xây dựng lộ trình và giải pháp để tiếp tục thúc đẩy phong trào xây dựng nông thôn mới rộng khắp, chiều sâu, hiệu quả, thiết thực hơn.

Hai là, đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng từng bước hiện đại, phát triển sản xuất liên kết chuổi giá trị. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học-công nghệ và phát triển mạnh việc ứng dụng quy trình VietGAP, nông thôn nghiệp hữu cơ vào sản xuất nông nghiệp.

Ba là, đẩy mạnh phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng đời sống văn hóa, thật sự chất lượng, đi vào chiều sâu, góp phần phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho nhân dân. Tiếp tục ưu tiên xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu; quan tâm các lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường, an ninh trật tự an toàn xã hội.

Bốn là, đối với các xã Thái Bình Trung, Vĩnh trị và Vĩnh Thuận phải thực hiện quyết liệt hơn nữa để đạt chuẩn trong giai đoạn 2019-2020; xã Tuyên Bình, Hưng Điền A đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2020-2025 theo lộ trình đề ra.  Phải chủ động xây dựng kế hoạch triển khai ngay nhiệm vụ, xác định công việc nào dễ làm trước, ưu tiên nguồn lực. Đặc biệt là phải khơi dậy tinh thần, nguồn lực, công sức, vai trò chủ thể của người dân.

Năm là, các cơ quan, ban ngành huyện theo chức năng được giao xây dựng kế hoạch hỗ trợ xây dựng nông thôn mới cho các xã. Cử cán bộ bám sát địa bàn trong việc triển khai thực hiện các tiêu chí của ngành mình; kịp thời phản ánh những vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực hiện.

Sáu là, Mặt trân tổ quốc và các đoàn thể huyện tăng cường công tác tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện Chương trình XDNTM gắn với phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư;  xây dựng các chương trình, kế hoạch hoạt động; Chương trình phối hợp hoạt động của Mặt trận, đoàn thể với các cơ quan trong việc xây dựng nông thôn mới. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giúp nhân dân nắm vững các cơ chế chính sách trên các lĩnh vực; xây dựng và nhân rộng các mô hình, điển hình. Nâng cao vai trò giám sát và phản biện của Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể trong việc tham gia xây dựng nông thôn mới.

Bảy là, từng địa phương phải tổ chức tổng kết để rút ra những bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo; phối hợp với các cơ quan, ban ngành ở huyện có những giải pháp cụ thể, phù hợp với điều kiện để tổ chức thực hiện thắng lợi thời gian tới. Tiếp tục rà soát các tiêu chí của địa phương mình để chỉ đạo với phương châm tiêu chí nào ít kinh phí, phụ thuộc vào chủ thể của người dân khẩn trương hoàn thành. Tập trung khai thác quỹ đất, phát huy có hiệu quả các nguồn lực trong nhân dân tích cực vận động nhân dân góp sức người, sức của, quyết tâm thực hiện thắng lợi các tiêu chí xây dựng nông thôn mới trên địa bàn.

Tám là, đối với Ban chỉ đạo, Văn phòng điều phối nông thôn mới huyện tăng cường hơn nữa trách nhiệm trong triển khai thực hiện nhiệm vụ; phân công từng đồng chí trong Ban chỉ đạo, Văn phòng điều phối cần sâu sát hơn nữa để cùng tháo gỡ khó khăn, động viên cán bộ và nhân dân đẩy mạnh phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới vì mục tiêu cải thiện nâng cao đời sống của nông dân, xây dựng huyện nhà ổn định phát triển.

Cùng với sự quyết tâm của Huyện ủy, HĐND, UBND huyện và các Ban ngành, Đoàn thể huyện và UBND các xã, cùng với sự tham gia hưởng ứng của người dân, Chương trình MTQG XDNTM huyện sẽ đạt những kết quả khả quan trong thời gian tới./.

Phạm Hoàng Long
Phó Chánh văn phòng Điều phối NTM tỉnh

 




30/08/2019 4:00 CHĐã ban hành
 Làm việc với huyện Thủ Thừa và Vĩnh Hưng về tình hình thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới và đầu tư xây dựng công trình cấp nước năm 2019 Làm việc với huyện Thủ Thừa và Vĩnh Hưng về tình hình thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới và đầu tư xây dựng công trình cấp nước năm 2019

Ngày 05/8/2019, Đoàn kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới năm 2019 của tỉnh (Đoàn kiểm tra tỉnh) do ông Phan Văn Liêm – Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chánh Văn phòng Điều phối nông thôn mới tỉnh làm trưởng đoàn đã tiến hành làm việc với huyện: Thủ Thừa và Vĩnh Hưng về tình hình thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới và đầu tư xây dựng công trình cấp nước năm 2019.

 lam viec voi vinh hung.jpg
Đoàn công tác làm việc với huyện Vĩnh Hưng

Để giúp Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng NTM, UBND tỉnh nắm được những khó khăn, vướng mắc của các địa phương trong công tác xây dựng NTM, cụ thể là công tác củng cố, kiện toàn Ban Chỉ đạo và bộ máy tham mưu giúp việc Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng nông thôn mới cấp huyện, xã; kết quả giải ngân các nguồn vốn; việc thực hiện các chỉ tiêu đã được giao năm 2019 và kết quả thực hiện Quyết định số 1687/QĐ-UBND ngày 14/5/2019 của UBND tỉnh; kế hoạch đầu tư công trình cấp nước (CTCN) nông thôn năm 2020, giai đoạn 2021-2025; tình hình thực hiện Thông tư số 54/2013/TT-BTC ngày 04/5/2013 và Thông tư số 76/2017/TT-BTC ngày 26/7/2017 của Bộ Tài chính

Theo Quyết định số 241/QĐ-UBND ngày 17/01/2019 của UBND tỉnh, Theo Quyết định số 241/QĐ-UBND ngày 17/01/2019 của UBND tỉnh, huyện Thủ Thừa được giao 04 chỉ tiêu xây dựng NTM, gồm: Bình quân mỗi xã đạt 15 tiêu chí; 01 xã (Mỹ Phú) đạt chuẩn NTM năm 2019; 02 xã đạt từ 15-18 tiêu chí; 04 xã đạt chuẩn NTM từ năm 2016 trở về trước (Bình Thạnh, Nhị Thành, Mỹ Lạc, Mỹ An) không còn nợ tiêu chí. Huyện Vĩnh Hưng được giao 03 chỉ tiêu xây dựng NTM, gồm: Bình quân mỗi xã đạt 15,5 tiêu chí; 01 xã (Vĩnh Trị) đạt chuẩn NTM năm 2019; 02 xã đạt từ 15-18 tiêu chí.
 
lam viec voi vinh hung1.jpg
Đoàn công tác làm việc với huyện Thủ Thừa

Đến thời điểm kiểm tra, huyện Thủ Thừa đã đạt: Bình quân mỗi xã đạt 14,42 tiêu chí; 01 xã đạt từ 15-18 tiêu chí; 04 xã đạt chuẩn NTM từ năm 2016 trở về trước vẫn còn nợ tiêu chí (Bình Thạnh nợ 02 tiêu chí, Nhị Thành nợ 01 tiêu chí; Mỹ Lạc nợ 02 tiêu chí và Mỹ An nợ 01 tiêu chí; xã Mỹ Phú (xã phấn đấu đạt chuẩn NTM năm 2019) đạt 15 tiêu chí. Huyện Vĩnh Hưng: Bình quân mỗi xã đạt 15,5 tiêu chí; 01 xã đạt từ 15-18 tiêu chí; xã phấn đấu đạt chuẩn NTM năm 2019 (Vĩnh Trị) đạt 15/19 tiêu chí.

Đối với việc thực hiện đầu tư CTCN nông thôn, trên địa bàn huyện Thủ Thừa có 218 CTCN nông thôn và 01 nhà máy nước Long An đóng trên điạ bàn xã Nhị Thành, trong đó có 46 CTCN nông thôn có vốn ngân sách nhà nước với hơn 11.689 triệu đồng. Hiện tại 46 công trình CN này đang hoạt động khá tốt. Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch của huyện hiện đạt 42,1%. Huyện Vĩnh, hiện tại tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch trên địa bàn huyện đạt 75,38%  tuy nhiên, tỉ lệ hộ dân sử dung nước sạch trên địa bàn xã Tuyên Bình và Tuyên Bình Tây còn ở mức thấp (Tuyên Bình Tây 0%, Tuyên Bình 10,6%).
 
lam viec voi vinh hung2.jpg
Lãnh đạo xã Mỹ Phú, huyện Thủ Thừa - xã phấn đấu đạt chuẩn NTM năm 2019 báo cáo kết quả thực hiện các tiêu chí

Kết luận buổi làm việc ông Phan Văn Liêm đánh giá cao sự quyết tâm của các huyện trong việc thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới và thực hiện đầu tư các công trình cấp nước nông thôn. Mặc dù tròng điều kiện thời tiết diễn biến phức tạp, dịch bệnh trên gia súc hoành hành nhưng các huyện vẫn thực hiện đạt các chỉ được giao ở mức cao, do đó đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện, bộ mặt nông thôn ngày càng đổi mới. Dự kiến đến cuối năm 2019, huyện Thủ Thừa và Vĩnh Hưng  sẽ hoàn thành các chỉ tiêu xây dựng NTM do UBND tỉnh giao năm 2019.

Thay mặt Đoàn kiểm tra, ông Phan Văn Liêm cũng đã đề nghị huyện Thủ Thừa và Vĩnh Hưng trong thời gian tới cần tiếp tục tập trung thực hiện một số nội dung trọng tâm sau:

Rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch xã nông thôn mới phù hợp với quy hoạch chung của và công bố công khai quy hoạch đã được điều chỉnh, bổ sung để người dân biết và thực hiện.

Đẩy nhanh tiến độ thi công và giải ngân vốn xây dựng NTM năm 2019.  Đối với các các công trình đã nghiệm thu đưa vào sử dụng, cần tăng cường công tác quản lý, sử dụng, duy tu bảo dưỡng và nâng cao hiệu quả sử dụng.

Chỉ đạo các xã, các ngành rà soát, đánh giá rõ số liệu thực hiện đến từng chỉ tiêu trong các tiêu chí NTM, nhất là các tiêu chí có quy định niên hạn như Trường học, Y tế; các tiêu chí tăng theo quy định hàng năm như: Thu nhập, tỷ lệ người dân tham gia BHYT, tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch… và có giải pháp cụ thể để đạt, hoặc duy trì giữ vững. 

Đối với các tiêu chí không cần đến nguồn vốn ngân sách, cần đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, tổ chức và hướng dẫn cho người dân thực hiện để sớm đạt tiêu chí. Đẩy mạnh vận động nhân dân phát triển sản xuất đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, đảm bảo vệ sinh môi trường, xây dựng cảnh quan môi trường sáng, xanh, sạch, đẹp (thu gom, xử lý rác thải, nước thải trong sinh hoạt, sản xuất; trồng cây xanh, trồng hoa ven đường; cải tạo vườn tạp; chỉnh trang cổng, hàng rào (nhất là hàng rào trồng cây xanh được cắt tỉa).

Đẩy mạnh vận động thành lập hợp tác xã, nhưng phải đảm bảo được chất lượng, hiệu quả hoạt động; hỗ trợ hợp tác xã xây dựng liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, gắn sản xuất với tiêu thụ.

Đẩy nhanh tiến độ thi công xây mới, sửa chữa, nâng cấp các CTCN; tiến độ đấu nối hộ dân các CTCN hoàn thành năm 2018, 2019; tiếp tục triển khai các danh mục CTCN nông thôn theo Quyết định số 1687/QĐ-UBND để đến năm 2020 đạt 45% nước sạch hoàn thành chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X; rà soát lại quy mô, địa điểm đầu tư CTCN huyện đề xuất, đảm bảo khả thi, không được thay đổi sau khi kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 – 2025 được UBND tỉnh phê duyệt. Thực hiện nghiêm Quyết định số 1728/UBND-KT ngày 18/5/2015 về việc phân cấp cho UBND cấp huyện thực hiện xác định giá trị CTCN nông thôn tập trung, trong đó tập trung chỉ đạo rà soát việc hạch toán, trích khấu hao nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định đối với các CTCN giao cho doanh nghiệp quản lý; đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, kiên quyết xử phạt vi phạm hành chính các cơ sở cấp nước chưa đạt chất lượng nước sạch theo Điều 14, Nghị định số 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013. Thành lập đoàn công tác, đánh giá, xác định giá trị còn lại các CTCN nông thôn có nguồn gốc vốn nhà nước đã giao quản lý theo Thông tư số 54/2013/TT-BTC nhưng hoạt động không hiệu quả để tổ chức lựa chọn nhà thầu, kêu gọi nhà đầu tư nhằm thực hiện chủ trương xã hội hóa cấp nước, chuyển từ cơ chế phục vụ sang dịch vụ cấp nước.

Đối với xã phấn đấu đạt chuẩn NTM năm 2019: Đề nghị huyện đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình đường giao thông, trạm cấp nước; tổ chức Đoàn để vận động người dân tham gia BHYT, chủ động cải tạo cảnh quan môi trường (thu gom và xử lý rác thải, trồng cây xanh, đấu nối nước sạch từ các trạm cấp nước đạt chuẩn..). Song song đó, phối hợp với Văn phòng Điều phối NTM tỉnh tiến hành lập hồ sơ đề nghị công nhận xã đạt chuẩn NTM theo đúng quy định.

Đối với xã đã được công nhận đạt chuẩn NTM từ năm 2016 trở về trước còn nợ tiêu chí: Đề nghị huyện và các xã tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động vốn đóng góp của người dân, vốn xã hội hóa, cùng với hỗ trợ vốn ngân sách huyện, xã, vốn đầu tư công theo lộ trình, để thực hiện các tiêu chí chưa đạt và củng cố, duy trì, nâng chất các tiêu chí đã đạt, từng bước không còn xã nợ tiêu chí. Đặc biệt, các xã phải chủ động có giải pháp để thực hiện, sớm đạt các tiêu chí không đòi hỏi vốn ngân sách Nhà nước./.

Anh Nhung
Chi cục Phát triển nông thôn và Thủy lợi

09/08/2019 4:00 CHĐã ban hành
1 - 30Next
TÌM KIẾM​
​​​
SỐ XÃ ĐẠT CHUẨN NTM​​​​​
​​​​​

​​ ​​​​​

​​
 
    Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: 263449

Trang thông tin điện tử Nông thôn mới tỉnh Long An
Cơ quan chủ quản: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn – C​ơ quan thường trực Chương trình xây dựng nông thôn mới tỉnh Long An
Chịu trách nhiệm: Ông Phan Văn Liêm – Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Long An - Trưởng Ban Biên tập
Cơ quan quản trị: Văn phòng Điều phối Chương trình xây dựng nông thôn mới tỉnh
Địa chỉ: Số 31, Quốc lộ 62, Phường 2, Thành phố Tân An, Tỉnh Long An
Điện thoại : (0272) 3525 759 ​ * Fax: (0272) 3825 273 ​ * Email: bbtntm@longan.gov.vn ​

​ ​